Wednesday, April 18, 2018

Sự kiêu ngạo cộng sản (phần 2)

Tác giả Nguyễn Thông

Hồi các thể chế chính trị trên thế giới còn chia làm hai phe kình địch, lứa 5X chúng tôi ở miền Bắc luôn được nghe từ đài báo nhà nước, từ cán bộ tuyên truyền rằng chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại, còn chủ nghĩa tư bản đang tự đào mồ chôn, đang giãy chết. Cứ nghe mãi những điều ấy rồi cũng thành niềm tin mặc dù chẳng biết chủ nghĩa cộng sản lẫn chủ nghĩa tư bản mặt mũi ngang dọc như thế nào. Cái mùa xuân mà họ nói thì quá xa xôi, chưa biết bao giờ mới theo chim én về, còn tư bản khi nào chết cũng chả biết. Mọi thứ đều rất mơ hồ, chỉ có nghèo đói, chiến tranh, xung đột, nồi da xáo thịt... là có thực, phải chứng kiến hằng ngày.
Phải thừa nhận người cộng sản, dù ở Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam, rất giỏi tuyên truyền. Họ nắm được quyền lực, độc quyền quyền lực, rất mạnh tay thực hiện chuyên chính vô sản, huy động hết tất cả cung bậc của bộ máy tuyên truyền, lại cộng thêm thuật mị dân siêu hạng, nên có những thứ họ tưởng tượng ra tuy chỉ là bánh vẽ nhưng phần đông dân chúng cũng tin là thực. Dường như bất cứ điều gì họ chủ trương, nêu ra, họ (người cộng sản) đều tự cho là chân lý, bắt dân phải tin đó là chân lý. Chẳng hạn họ luôn đề cao chủ nghĩa duy vật, chống lại mọi quan điểm duy tâm; đề cao tập thể, chống tôn sùng cá nhân… nhưng trên thực tế thì ngược lại. Chính họ duy tâm siêu hạng, tôn thờ cá nhân, sùng bái cá nhân siêu hạng.
Trước hết, có thể thấy rõ sự kiêu ngạo cộng sản lộ rõ ở những từ ngữ, khẩu hiệu mà họ thường dùng. Hằng ngày luôn bắt gặp trên sách báo, trong những bản tin đài phát thanh, trên cửa miệng của cán bộ tuyên truyền, trên những bức tường khắp vùng thành thị lẫn nông thôn những từ: muôn năm, mãi mãi, vô địch, đời đời bền vững, sống mãi, bách chiến bách thắng, bất diệt, vinh quang…, tất cả đều hàm chứa sự duy ý chí, phản lại quy luật cuộc sống. Đi đâu cũng gặp những câu khẩu hiệu dạng: Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến cách thắng vô địch muôn năm, đảng lao động VN quang vinh muôn năm (giờ đây câu này gần như hiện diện 100% trên sân khấu tại các hội trường cơ quan đơn vị, chỉ khác tí ti là thay chữ lao động bằng chữ cộng sản), đảng là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng, chủ tịch… sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, tình hữu nghị Việt-Xô (Việt-Trung) đời đời bền vững, tinh thần cách mạng tháng Tám bất diệt… Hồi mấy chục năm trước, tôi đi xe lửa qua chỗ nhà máy xi măng Bỉm Sơn (do Liên Xô giúp xây dựng) thấy trên nóc nhà máy câu khẩu hiệu đúc bằng bê tông to vật vã “Tình hữu nghị Việt-Xô đời đời bền vững”, sau nó mất đi lúc nào không biết. Là người duy vật, lẽ ra họ phải hiểu hơn ai hết rằng chẳng có cái gì tồn tại mãi mãi, bất diệt, vững bền muôn thuở, chẳng có gì hoàn hảo không tì vết. Mặt trời còn có lỗ đen, ngọc họ Hòa còn bị mẻ, nói chi con người, xã hội loài người. Thế nhưng họ cứ thích nói ngược.
Sự sùng bái cá nhân của người cộng sản dường như một phần được hình thành từ sự kiêu ngạo. Với họ, cứ là lãnh tụ thì sẽ là thần thánh, là đỉnh cao chói lọi, sáng như vầng thái dương, đẹp hơn cả mùa xuân. Mỗi lời nói của lãnh tụ chả khác gì châu ngọc, gấm thêu. Những Lênin, Mao Trạch Đông, Stalin, Kim Nhật Thành, Castro, và cả cụ Hồ, đều được họ ca tụng cực kỳ mẫu mực, đẹp đẽ. Còn hơn cả phật, cả chúa. Không ai được động vào thần tượng. Nói đâu xa, ngay cỡ lãnh tụ tầm vừa vừa ở xứ ta, như các vị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh…, tới dịp kỷ niệm ngày sinh ngày mất là cứ ồn ào như hội, đó là chưa kể xây dựng đủ thứ nhà tưởng niệm nọ kia khiến thiên hạ cảm tưởng đó là thánh chứ không phải người.
Tự xưng là lực lượng tiến bộ nhất của xã hội loài người, có tư duy khoa học, nhìn nhận sáng suốt, suy nghĩ biện chứng… nên họ rất kiêu ngạo. Chắc nhiều người còn nhớ, sau cuộc nội chiến kéo dài suốt hơn 20 năm, người cộng sản giành phần thắng. Thắng nên càng sinh kiêu ngạo, dù luôn mồm bảo "thắng không kiêu, bại không nản". Sau ngày 30.4.1975 rất phổ biến tâm lý rằng “từ nay đất nước ta hoàn toàn giải phóng, vĩnh viễn độc lập tự do”, “đất nước ta đã thu về một mối, vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của đế quốc thực dân, vĩnh viễn sạch bóng quân thù, hoàn toàn tự do độc lập”. Những câu trên tôi trích trong Lời giới thiệu cuốn “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” của Nhà xuất bản Sự Thật (nhà xuất bản riêng của đảng), xuất bản tháng 8.1975 (tôi đang có cuốn sách này). Và không chỉ trong sách, chính Tổng bí thư Lê Duẩn cũng từng rất hào hứng khẳng định trong diễn văn tại lễ kỷ niệm quốc khánh 2.9.1975 rằng kể từ nay đất nước vĩnh viễn sạch bóng quân thù, thênh thang con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự mừng rỡ say chiến thắng thái quá cùng sự kiêu ngạo đã làm họ không thấy những tai họa cận kề đang rình rập, kéo dài mãi tận bây giờ.
Nhưng có thể châm chước cho những suy nghĩ như thế khi ở vào thời điểm núi lửa lịch sử phun trào dung nham quá nóng quá mạnh, chứ mãi về sau gần nửa thế kỷ, khi đất nước đang loay hoay xóa đói giảm nghèo, lo tụt hậu, ở khoảng cách rất xa so với những nước trước kia cùng xuất phát điểm với mình, tham nhũng tràn lan, đạo đức xuống cấp, văn hóa lộn xộn, dân chủ bị co hẹp… thế mà người đứng đầu đảng vẫn sung sướng tự hào “từ xưa đến nay, đất nước có bao giờ được thế này chăng”, “Quảng Trị đẹp nhất từ xưa đến nay”, “Dân chủ đến thế là cùng”… Đó là cái nhìn, cách nghĩ của anh binh nhì tập đội ngũ dậm chân tại chỗ chứ không phải của người đang làm chủ cuộc sống, chứ chưa nói gì ở vai trò cai trị nhân dân, lãnh đạo cuộc sống.
Chính thói kiêu ngạo cũng đã làm xói mòn phẩm chất đẹp đẽ từng có của người cộng sản. Đã có thời họ gắn bó với nhân dân, cùng vui cùng buồn, cùng chia bùi sẻ ngọt. Nhưng dần dần thói kiêu ngạo đã tách cá ra khỏi nước, kiểu như ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng hùng hồn tuyên bố “Nếu ta sai thì ta xin lỗi, còn nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Chắc nhiều người còn nhớ nhận xét nổi tiếng của bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, đại loại “dân chủ của ta còn dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư bản”. Dạng “lời hay ý đẹp” như thế nhiều lắm, chả thể kể ra hết được.
Thôi thì, nói như nhà thơ Việt Phương “Ta đã thấy những vết bùn trên các vì sao”, chỉ ra vết bùn sự kiêu ngạo của “sao”, tôi chỉ có mong muốn họ lắng nghe, thực tâm gột rửa để ngày càng trở nên sạch sẽ, gần gũi với mọi người dân trên đất nước này.

Nguyễn Thông

Friday, February 16, 2018

Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp chết vẫn nói dối

BS.Trần Văn Tích Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan vốn bà con gần với tôi vì chúng tôi cùng có chung một ông cố, đó là Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng. Năm 1882, khi Henri Rivière đánh thành Hà nội thì Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết còn Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng thì tuyệt thực. Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng là cố nội của Hoàng Phủ Ngọc Tường-Hoàng Phủ Ngọc Phan còn tôi thì gọi Ông là cố ngoại. Thân phụ cặp bài trùng Việt cộng ác ôn vì là con quan lớn nên được tập ấm, tôi gọi là cậu Ấm Hoàng Hữu Dực. Thời Pháp thuộc, cậu Ấm Dực làm xếp ga An cựu, Huế. Bài viết hôm nay tập trung vào một chi tiết duy nhất gạn lọc ra từ đoạn văn sau đây, mới được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới vào ngày đầu tháng hai này. Trích : “Để chứng tỏ mình là người trong cuộc, tôi đã dùng ngôi thứ nhất- “tôi”, “chúng tôi” khi kể một vài chuyện ở Huế mậu thân 68. Đó là những chuyện anh em tham gia chiến dịch kể lại cho tôi, tôi đã vơ vào làm như là chuyện do tôi chứng kiến. Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu …Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra ..”. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi.“ Hết trích. (Tôi tôn trọng cách trình bày về hình thức của tài liệu, nhất là những dòng chữ tô đậm trong nguyên văn.) Theo các chi tiết phổ biến trên internet thì Hoàng Phủ Ngọc Tường, 81 tuổi, hiện lâm bệnh nặng, đã đọc cho con gái chép lại lời y thành bài viết xuất hiện dưới đầu đề “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn“. Như đã báo trước, cá nhân tôi không đếm xỉa đến những lời thanh minh trần tình của tên Việt cộng sắp chết mà chỉ chú trọng vào lời kể của y, theo đó ở Đông Ba có một bệnh viện nhỏ bị máy bay Mỹ thả bom giết chết hai trăm người. Người viết đặt tiền đề như vậy làm giả thuyết – nghĩa là nêu vấn đề ra theo tinh thần khoa học để giải thích một hiện tượng ngoài đời hay trong tự nhiên nào đó (trong trường hợp này là vụ gọi là Mỹ thả bom giết hai trăm người ở một bệnh viện toạ lạc tại Đông Ba, Huế) – và tạm chấp nhận sự kiện liên hệ tuy chưa thể kiểm nghiệm, chứng minh hầu căn cứ vào đó mà phân tích, suy luận. * Những ai ở Huế lâu ngày đều biết đến các cơ sở điều trị quân dân y : Bệnh viện Trung ương Huế trên đường Lê Lợi cạnh dòng Hương giang, Quân y viện Nguyễn Tri Phương trong Mang Cá, nhà Hộ sinh ở Tây Lộc. Các khu vực Đông Ba, Gia Hội là những vùng buôn bán sầm uất, có nhiều phố xá nhộn nhịp, có nhiều nhà cửa dân chúng đông đúc. Không có khoảnh đất trống nào đủ rộng lớn để xây một bệnh xá hay bệnh viện nhỏ. Nếu Mỹ thả bom trúng bệnh viện mà chết ngay một lúc đến hai trăm người thì cơ sở khám bệnh và nhận người ốm đau nằm điều trị phải được trang bị ít nhất cũng năm mươi giường bệnh. Thế nhưng không người dân Huế nào biết đến hay nhận được công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định về y khoa phòng ngừa, y khoa chẩn đoán, y khoa điều trị dành cho số đông, có tổ chức thành nề nếp và có tiếng vang trong vùng; chỉ có bọn Vẹm từ trên rừng về là sưng sưng bảo rằng có một cơ sở y khoa như vậy! Vạn nhất nếu bom “đế quốc“ vô tình đánh sập bệnh viện, giết một loạt hai trăm người thì đám truyền thông cộng sản hay thân cộng tại sao đều câm như hến và mù tịt cả lũ? Chúng luôn luôn theo dõi rất kỹ các tội ác do “đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân thế giới“ gây ra cơ mà, đời nào chúng chịu ngậm câm nhắm mắt trước một vụ thảm sát lớn lao như vậy? Chúng chả rêu rao ầm ỹ vụ được chúng tuyên truyền là “giặc lái Mỹ“ ném bom xuống khu Khâm Thiên, Hà Nội gây tổn hại cho bệnh viện cận kề là gì? Chúng thổi phồng vụ chuồng cọp ở các trại giam Việt cộng tại Côn Đảo, Phú Quốc một cách vô liêm sỉ. Chúng láo khoét bảo phe quốc gia đã đầu độc hàng loạt tù hàng binh; sau ngày 30.04, lại cũng chính chúng trơ tráo sượng sùng công nhận là không hề có chuyện đó. Cái lối mô tả Mỹ ném bom giết hai trăm người ở Bệnh viện Đông Ba cũng cùng bài bản với lời tố cáo của nhà sư Thích Nhất Hạnh theo đó Mỹ thả bom giết ba trăm ngàn dân Bến Tre trong khi thực ra dân số toàn tỉnh Bến Tre chỉ có chưa đến một trăm ngàn người. Vả lại miệng lưỡi điêu ngoa của Việt cộng chuyên môn đưa ra những con số nạn nhân phóng đại một cách nham hiểm và tròn trịa một cách ngu ngốc. Lê Duẩn đã từng tuyên bố là “Mỹ Diệm“ lê máy chém đi khắp nơi chặt đầu năm trăm đảng viên cộng sản. Toàn là những con số tròn trặn tròn vo. Năm trăm của Lê Duẩn, hai trăm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ba trăm ngàn của Thích Nhất Hạnh! Tuy nhiên Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ biết ăn gian nói dối mà ăn gian nói dối một cách ngu xuẩn, u mê. Thoạt tiên cặp bài trùng đội lốt quỷ sứ họ Hoàng Phủ trút tội lên đầu Mỹ, chúng bù lu bù loa bảo pháo và bom của Mỹ giết đồng bào Huế nhưng đến khi đồng bào Huế và chứng nhân nước ngoài quan sát thấy các thi hài khai quật từ những hố chôn tập thể chỉ mang những vết thương bằng vũ khí đạn dược, thậm chí bị đánh vỡ sọ gãy tay, bị trói cánh khủy nằm chồng lên nhau, chứ không hề có mảnh bom hay viên đạn nào của Mỹ trong thi thể thì chúng thấy mình bị hố nặng. Thếnhưng biết bị hố thì trễ quá rồi, mặt nạ Satan Mephisto đã hiện guyên hình quá rõ. Ăn gian mà ngu, nói dối mà đần, phải chăng vì vậy mà cả Hoàng Phủ Ngọc Tường lẫn Hoàng Phủ Ngọc Phan đều coi như hoàn toàn thất sủng sau ngày 30.04 mặc dầu cả hai tên đều đã mang trên hình hài một thành án, một thiết án muôn đời không cởi bỏ được. * Mỗi con người đều là một thành viên của lịch sử. Quyết đoán về một nhân vật lịch sử là việc không phải dễ và càng lên tiếng mạnh mẽ càng hay rơi vào sai lầm. Mục đích nên nhằm khi nhìn lại quá khứ lịch sử là tìm hiểu một cách tương đối vô tư để nhận định cho chính xác, may ra sẽ rút được phần nào kinh nghiệm cho cuộc sống vốn rất dễ bị xáo trộn khuấy động do những sự bồng bột nhất thời có thể che khuất lương tri.. Dẫu sao đi nữa thì với kẻ thành tâm tìm hiểu việc nước, thái độ bình tĩnh nhận xét, tinh thần phân tích khoa học là những điều kiện thuận lợi để tới gần sự thật. Trước khi chết, Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn gột rửa phần nào tội ác tày trời đối với đồng bào nhất là đồng bào Huế. Huế là nơi y chào đời, lớn lên, ăn học và giảng dạy. Cộng sản mà đứng trước ngưỡng cửa tử sinh thì cũng phải thấy là việc trọng đại. Biện pháp duy nhất chỉ có thể là đổ tội cho tha nhân, và dễ dàng hơn nữa, cho ngoại nhân. Bom Mỹ đã giết hai trăm đồng bào vô tội ở Đông Ba, Hoàng Phủ Ngọc Tường quả quyết một cách rất đần độn như vậy. Nhưng dữ kiện này, vẫn theo chính mồm miệng điêu ngoa của y, vốn xuất phát từ một tên Việt cộng khác; y chỉ nhập nhằng, lưu manh quơ vào cho mình. Làm sao y dám nhận xằng như vậy một khi chẳng có bằng chứng cụ thể, khách quan nào cả? Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gian mà lại ngu. Sống thì gian và ngu, gần chết lại càng gian và ngu hơn. FEB 11, 2018 Trần Văn Tích

Sunday, February 4, 2018

VÀI LỜI VỚI ANH NGUYỄN CÔNG KHẾ VÀ BẠN BÈ

VÀI LỜI VỚI ANH NGUYỄN CÔNG KHẾ VÀ BẠN BÈ - HOÀNG HẢI VÂN Những điều tốt đẹp tôi viết về anh Nguyễn Công Khế trong những câu chuyện liên quan đến anh đã đăng trên báo Thanh Niên, trên blog và trên facebook này, giờ nếu phải viết lại thì một chữ cũng không thay đổi. Những người khác hiểu những bài viết đó như thế nào tôi không quan tâm, bạn bè tôi hầu hết hiểu đúng, dù có người phải đến 10 năm mới hiểu. Nhưng điều đáng buồn là chính anh Nguyễn Công Khế lại không hiểu thấu đáo được tư cách của tôi. Dù anh Khế chỉ lớn hơn tôi vài tuổi nhưng tôi chưa bao giờ coi anh là bạn bè. Tôi coi anh là một vị thủ trưởng đáng kính và giờ vẫn coi anh là một vị thủ trưởng cũ đáng kính. Anh có đầy đủ phẩm chất để tôi suốt đời kính trọng. Nhờ anh mà tôi đã phát huy hết khả năng của một người làm báo chuyên nghiệp ở báo Thanh Niên. Đó là ơn tri ngộ. Nhưng tôi không phải là “cánh tay”, không phải là “đệ tử” của anh. Anh tôn trọng tôi, nên cũng không hề có ý định biến tôi thành một công cụ như thế. Hồi anh còn làm báo Thanh Niên, nhiều khi sáng thức dậy anh gọi điện, bảo sao tôi cứ nhè bạn của anh mà “đánh” hoài thế, khiến cho họ chửi anh, anh nói là nói vậy chứ không hề bảo dừng lại không đăng bài phê phán bạn anh nữa. Nhiều phóng viên gặp chuyện này chuyện kia có hỏi tôi, rằng người này người kia thân với anh Khế, có viết bài phê phán được không. Tôi nhiều lần đã phải nói rõ, nếu vi phạm pháp luật thì dù có thân với ai cũng không bỏ qua. Tôi đã viết những điều tốt đẹp về anh, không phải vì cái ơn tri ngộ kia, mà vì muốn truyền một cảm hứng cho các bạn làm báo trẻ, rằng làm báo phải chính trực như thế. Cho đến gần đây. Tôi viết loạt bài “Sơn Trà ký sự” đăng trên báo điện tử Một Thế Giới. Tờ báo này được vận hành bởi Tập đoàn Truyền thông Thanh niên do anh Khế làm Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc (điều này có giới thiệu công khai trên trang chủ tờ báo). Có lẽ do không có điều kiện trực tiếp tìm hiểu vấn đề, loạt bài lại có nhiều đụng chạm, nên đăng 8 kỳ thì lãnh đạo báo yêu cầu dừng lại không viết nữa, trong 8 kỳ đó có gỡ xuống 1 kỳ. Tôi phản ứng kịch liệt với anh Khế. Anh bảo anh không biết. Anh có biết và có can thiệp để gỡ bài hay không thì tôi không rõ, nhưng tôi không có lý do gì để “sững cồ” lên với anh, vì anh đâu có phải là tổng biên tập tờ báo đó. Nhưng tôi có thể hiểu, anh lo cho sự an toàn của một tờ báo điện tử còn non trẻ, sự lo lắng đó là chính đáng, đã chấp nhận đăng được chừng ấy bài là quá tốt rồi. Không tiếp tục đăng những vấn đề tôi am hiểu về Đà Nẵng trên báo Một Thế Giới nữa, tôi viết bài đưa lên facebook này. Anh Khế không có quyền gì đối với tôi, nhưng từ khi tôi đưa stt Vũ nhôm và “thần tượng” Nguyễn Bá Thanh, anh Khế liên tục gọi điện ngăn cản. Tôi nghĩ anh lo cho sự an toàn của tôi là một chuyện, điều quan trọng hơn là anh vốn là bạn của ông Nguyễn Bá Thanh, anh không muốn người khác đụng đến một người bạn đã qua đời. Xin lưu ý là không chỉ anh Khế, mà ngay cả một số vị lãnh đạo tôi cho là chính trực của Đảng ở Trung ương trước đây vẫn đánh giá cao về ông Nguyễn Bá Thanh, bằng chứng là ông ấy đã được rút ra Hà Nội làm Trưởng ban Nội chính Trung ương và nghe nói có đề nghị vào Bộ Chính trị (nhưng không thành). Tôi tôn trọng tấm lòng của anh Khế đối với bạn, cũng như tôi tôn trọng quan điểm của anh Nguyễn Quốc Phong (cựu Phó Tổng Biên tập báo Thanh Niên), cũng là người thân thiết với anh Khế, khi anh ấy viết bài ca ngợi ông Nguyễn Bá Thanh sau loạt bài của tôi. Không muốn tôi viết những bài như vậy, anh Khế nhiều lần gọi điện nói khéo, rằng “tầm cỡ” của tôi phải viết những bài có “tầm cỡ” hơn, rằng tôi không nên viết những chuyện “lặt vặt” như thế. Tôi trả lời anh, tôi là thường dân, chẳng có “tầm cỡ” gì, tôi chỉ biết gì nói vậy thôi. Vì vậy, tôi vẫn cứ viết những gì tự tôi thấy cần phải viết, vì không “chạm” đến ông Nguyễn Bá Thanh thì những vấn đề của Đà Nẵng không bao giờ có thể giải quyết được rốt ráo. Và hôm qua, có một bạn link vào facebook tôi một bài viết trên mạng xã hội, nói rằng anh Khế đã sử dụng một “đệ tử” là tôi đây, để viết bài triệt hạ ông Nguyễn Bá Thanh và Vũ nhôm nhằm giúp cho ai đó “thâu tóm các dự án của Vũ nhôm”. Mục đích của bài viết này là công kích bêu xấu anh Nguyễn Công Khế và bảo vệ Vũ nhôm, nhưng chỉ riêng cái chi tiết bịa đặt trắng trợn này cũng đủ cho thấy toàn bộ những gì mà bài viết đó nêu ra đều không có giá trị. Tôi gọi điện cho anh Khế, anh bảo anh đã đọc rồi. Tôi không quan tâm người ta nói gì về tôi, càng không quan tâm đến những thứ fake news của bọn cóc nhái trên mạng xã hội. Nhưng tôi hơi buồn và hơi thất vọng, vì anh Khế có ý trách rằng do những bài viết của tôi mà bọn họ đã “đánh” anh ấy. Anh đã không giấu được tâm lý của một bề trên, khi buột miệng nói rằng tôi thì có gì để mà bọn họ “đánh”, tôi làm gì để bọn họ thù thì bọn họ chỉ “đánh” anh ấy thôi. Tôi thấy áy náy, nói để tôi viết một cái stt giải thích là những gì tôi viết không có liên quan đến anh, nhưng anh nói không cần. Không cần, mà vẫn oán trách. Tôi thấy thiệt là khó xử. Tôi tưởng lòng tôi bằng phẳng trước mọi thị phi. Nhưng khi tí tởn tham gia cái mạng xã hội này thì không thoát khỏi thị phi được. Những dòng này được viết ra chắc anh Khế không thích, nhưng tôi không thể không viết ra đây. Tôi không danh không tiếng gì, cũng không cầu danh cầu lợi, nhưng là một cá nhân độc lập, chỉ mong được ăn một ngày ba bữa bằng thu nhập lương thiện của mình, được làm những gì mình thích, viết những gì mình cho là đúng và tự chịu trách nhiệm về những gì mình viết. Ơn nghĩa thì không quên, nhưng lương tâm thì không thể không ngay ngắn. Mong anh Khế, người thân của anh Khế và những người tử tế hiểu cho, còn đám cóc nhái trên mạng xã hội kia thì mặc kệ đi ! HOÀNG HẢI VÂN

Friday, June 30, 2017

Cộng sản có đối thoại được không?

Mới đây trưởng ban tuyên giáo trung ương, uỷ viên bộ chính trị trẻ nhất trong số các uỷ viên bộ chính trị của cộng sản VN là Võ Văn Thưởng đã phát biểu.
 
“Ban Tuyên giáo Trung ương đang chờ Ban Bí thư thông qua một văn bản hướng dẫn về việc "tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đây là vấn đề rất quan trọng. Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý.
Phát biểu như thế này từ một uỷ viên bộ chính trị, trưởn ban tuyên giáo gây xôn xao dư luận là việc đương nhiên. Phần lớn những người mà ông Thưởng liệt kê vào dạng cần đối thoại đã tỏ ý nghi ngờ đằng sau phát biểu ấy là một âm mưu. Điều này cũng không có gì lạ, bởi trong quá trình hàng mấy chục năm cầm quyền, chuyện nói dối hoặc hứa rồi nuốt lời của lãnh đạo cộng sản xảy ra thường xuyên và cho đến tận bây giờ họ cũng đang như cũng vậy.
 
Các giả thiết đưa ra cho rằng đây là âm mưu lừa đảo, mị dân, khơi cho trăm hoa đua nở rồi tận diệt như bên Tàu. Cái này đúng, trước kia đúng và bây giờ vẫn đúng. Bằng chứng là chính lúc ông Thưởng đặt vấn đề như vậy, thì thực tế diễn ra ngay trong lúc ông nói là chính quyền gia tăng đàn áp những người bất đồng chính kiến bằng những thủ đoạn tàn bạo và nham hiểm mạnh tay hơn.
Hoặc có thể cộng sản Việt Nam dựng nên đối thoại nhằm mục đích biện minh và lấy uy tín cho mình, họ sẽ cho những người dễ dãi hoặc những chim mồi giả vờ tham gia đối thoại, sau đó công nhận đảng CSVN đang có hướng đi đúng, có thành quả này kia. Họ cũng nêu một chút gì đó để trách cứ chế độ cộng sản cho ra vẻ khách quan. Để rồi sau đó đảng CSVN tuyên truyền đã đối thoại thẳng thắn và được đa số ủng hô, tán thành chủ trương của họ. Còn một số khiếm khuyết do khách quan không đáng kể, nước nào cũng có sẽ khắc phục dần.
 
Nhưng tuy nhiên cũng nên thử đặt một cạnh nhìn khác, dù khả năng của nó chỉ chiếm một phần nhỏ nhoi hy vọng, đó là đặt vấn đề cho rằng ông Thưởng nói thật.
Vậy trong trường hợp nào thì ông Thưởng nói thật tâm.?
Trường hợp trong nôi bộ đảng cộng sản có những nhóm thực lòng muốn đối thoại với dân, để mong thế hệ lãnh đạo tương lai của cộng sản với người dân có những điều dễ gần hơn, dễ nói chuyện hơn, không có những khoảng cách như nhân dân và lãnh đạo bây giờ. Điều này có thể xảy ra vì cộng sản luôn tính trước những tình huống xấu dự phòng.
 
Ông Võ Văn Thưởng là uỷ viên BCT trẻ nhất trong các uỷ viên Bộ chính trị bây giờ, có thể nói ông là đại diện cho thế hệ lãnh đạo của hai nhiêm kỳ sau này. Bản thân ông Thưởng là người không có điều tiếng gì xấu so với các lãnh đạo khác, bởi những vị trí của ông đã kinh qua không phải là những vị trí dễ bị dính vào vòng xoáy của tham nhũng, lợi ích nhóm. Xét thêm yếu tố này cùng với yếu tố trước thì câu chuyện khả năng cộng sản Việt Nam có thể mong muốn đối thoại là có thật, nhưng nó không phải là bây giờ, và hơn hết nó chỉ là một phương án dự phòng của chế độ cộng sản cho tương lai.
Không phải phát biểu trên của ông Thưởng bị những nhà đấu tranh nghi ngờ và chỉ trích nặng lời, mà ngay cả những cán bộ của đảng lão thành, thủ cựu về hưu cũng như đang tại chức cũng khó chịu khi thấy ông Thưởng nói vây.. Với sự kiêu ngạo về quyền lực độc tài tuyệt đối của đảng CSVN có được nhiều năm qua, họ cảm thấy những phát ngôn của ông Thưởng là sự xuống nước của đảng, làm cho dân chúng không còn sợ đảng, mất đi sức mạnh của đảng , tức chính là mất đi quyền lực của họ.
Nếu như phát biểu này của ônng Võ Văn Thưởng xuất phát từ miệng ông Đinh Thế Huynh, Nguyễn Phú Trọng...chắc hẳn đó là sự lừa đảo, vì bản chất của những người như ông Trọng, ông Huynh là những kẻ bảo thủ đang cố gắng gia tăng quyền lực của đảng, bất chấp sự phi dân chủ và tiến bộ. Nhưng nếu từ một uỷ viên BCT trẻ tuổi như ông Thưởng, người cũng ít thấy dư luận phê phán ở những cương vị ông trải qua. Thiết nghĩ việc đề phòng cộng sản Việt Nam nói dối phải đặt hàng đầu, nhưng cũng nên để một góc nhỏ để suy ngẫm về những phát ngôn này theo hướng tích cực. Khi cộng sản Việt Nam đã đưa ra những biện pháp thuộc dạng đề phòng cho tương lai như thế này, chúng ta cũng nên cân nhắc vấn đề, dù không tin tưởng nhưng không có nghĩ người bất đồng chính kiến bác bỏ hoàn toàn, những người đấu tranh cũng nên đặt ra những tình huống dự phòng cho dù tỷ lệ hy vọng việc đó thành công là chỉ vài phần trăm.
 
Những người trí thức đấu tranh ôn hoà từng bị tù đày về bất đồng chính kiến với chế độ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung , Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn và nhiều người khác ở trong nước có thể thống nhất với nhau để cử ra đại diện bất đồng chính kiến để đề nghị đối thoại với ông Võ Văn Thưởng xem thái độ và hành xử của vị uỷ viên Bộ Chính Trị, trưởng ban tuyên giáo này ra sao, đó cũng là một cách đấu tranh ôn hoà , dân chủ và tiến bộ. 
 
Nếu bị khước từ, hay bị những thủ đoạn cản trở thì đó cũng là cách lột mặt nạ gian dối của chế độ này cho quốc tế và nhân dân trong nước thấy rõ hơn.
 
-- Người Buôn Gió

Thursday, June 29, 2017

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI TRẺ, NHÂN PHIÊN XỬ MẸ NẤM

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI TRẺ, NHÂN PHIÊN XỬ MẸ NẤM
by Pham Doan Trang



Ngày hôm nay, một phiên tòa chính trị đã diễn ra ở Nha Trang, nơi người ta xử một phụ nữ trẻ, mẹ của hai đứa con nhỏ. Đó là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, 38 tuổi.
Người ta không cho chị mặc chiếc áo trắng mà mẹ của Quỳnh gửi vào trại giam cho con. Người ta bắt chị phải mặc một cái áo phông không cổ, với những hình vẽ của trẻ con trước ngực.
Người ta chặn phố xá, chặn mọi ngả đường đến tòa. Nha Trang bỗng như trong tình trạng thiết quân luật.
Người ta không cho cả mẹ ruột của chị vào trong phòng xử án. Sau một hồi “đấu tranh” quyết liệt, mẹ chị mới “được phép” vào ngồi ở phòng bên cạnh, theo dõi phiên tòa qua màn hình.
Người ta từ chối tranh tụng với luật sư, từ chối trả lời các lập luận bào chữa của luật sư.
Và cuối cùng, người ta áp đặt cho Quỳnh một bản án với con số làm nhiều người sửng sốt: 10 năm tù.
* * *
Quỳnh là ai và đã làm gì để người ta phải căm thù chị như vậy?
Chị là một nhà hoạt động nhân quyền. Chị yêu đất nước, con người Việt Nam. Vì yêu mãnh liệt, nên chị mong muốn Việt Nam thay đổi, trở nên tự do và dân chủ, để người dân được sống hạnh phúc, những đứa con của chị được lớn lên trong niềm vui hồn nhiên của những đứa trẻ bình thường ở một đất nước bình thường. Chị mong muốn thiên nhiên, môi trường ở xứ sở này mãi xanh, biển mãi dồi dào cá, không khí mãi trong lành, và Nha Trang của chị sẽ mãi là một thành phố du lịch xinh đẹp bên bờ đại dương.
Chị không muốn con cái chị lớn lên ở một đất nước nơi mà chỉ cầm tấm biển “Cá cần nước sạch”, đã bị khép tội, hay thanh niên chỉ cần có dự định “ra nước ngoài học về xã hội dân sự” là đã bị cấm xuất cảnh, hoặc nếu đi được, thì trở về sẽ bị câu lưu ở sân bay. Chị không muốn Nha Trang ngập tràn những dự án cướp đất của dân, những du khách Tàu xì xồ thứ tiếng ngoại quốc, một thành phố đầy rác và bụi. Không muốn một đất nước ngột ngạt vì nạn công an bạo hành và tòa án bất công. Một đất nước với những rừng cây trơ trụi, những núi đá tan hoang, những vùng biển nhiễm độc, hiu quạnh bóng tàu bè…
Còn người ta là ai? Người ta là những đại diện của nhà nước này – những kẻ không chia sẻ tình yêu đất nước của chị Quỳnh, và cũng không muốn ai có tình yêu ấy. Suy cho cùng, bản án 10 năm tù mà người ta áp đặt cho Quỳnh hôm nay là để đe dọa, ngăn cản người dân Việt Nam yêu nước, hoặc yêu thương nhau.
Người ta không cần dân chúng phải yêu nhà cầm quyền, chỉ cần dân chúng đừng yêu nước và đừng yêu thương nhau, và tốt nhất là hãy nhìn vào mức án 10 năm đó mà sợ hãi hoặc tuyệt vọng, chán nản.
* * *
Nhưng, có ai sợ hãi, tuyệt vọng, chán nản không?
Có gì phải sợ, tuyệt vọng, buồn hay chán. Nếu chúng ta nhìn vào những việc Quỳnh đã làm, chúng ta sẽ chỉ thấy nổi lên một điều thôi: Tình yêu của Quỳnh dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Vì tình yêu ấy, nên cuộc đời chị đẹp lắm. Chị hiên ngang đứng giữa vòng vây công an và dân phòng ở Sài Gòn, giương cao khẩu hiệu: Vì một quốc gia cường thịnh, phải thay đổi! Chị cất cao tiếng nói đòi nhà nước pháp quyền, đòi xóa bỏ những điều luật hà khắc và vô lý như 258 Bộ luật Hình sự. Chị đến với những người dân nghèo mất đất, những nạn nhân của bất công và oan sai, để giúp đỡ họ về tinh thần và vật chất, và hướng dẫn họ đấu tranh. Chị bảo vệ quyền cho dân oan, cho những người bị chà đạp bởi một hệ thống hành pháp và tư pháp còn nhiều sai trái, bạo ngược.
Trên tất cả, cuộc đời chị đẹp bởi vì chị đã tranh đấu cho tự do, ngẩng cao đầu và không sợ hãi.
Này bạn. Nếu bạn cũng tranh đấu cho tự do của một đất nước, cho nhân quyền của người dân, cũng ngẩng cao đầu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi như Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bạn cũng sẽ cảm nhận được rằng cuộc đời đẹp lắm, tuổi trẻ của bạn đẹp lắm.
Ngày hôm nay, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nói trước tòa: “Mỗi người chỉ có một cuộc đời, nhưng dù được làm lại con vẫn sẽ làm như vậy và con tin mẹ và các con sẽ không bao giờ phải hối hận mà sẽ tự hào vì con. Tôi mong muốn xây dựng một xã hội và đất nước tốt đẹp. Một quốc gia chỉ tự cường khi nó luôn gắn liền với nền tảng một xã hội mà người dân có tự do và hạnh phúc. Tôi mong rằng mọi người sẽ lên tiếng và đấu tranh, vượt qua nỗi sợ hãi của chính bản thân mình để xây dựng một đất nước tươi đẹp hơn”.
Những lời chị nói gợi nhớ đến “Bài ca của người hát trong ngục tù tra tấn” – tác phẩm để đời của thi sĩ tài danh của nước Pháp, Louis Aragon:
“Nếu phải đi trở lại
Tôi đi lại đường này
Một tiếng từ ngục tối
Nói đến những ngày mai”
“Nếu phải đi trở lại
Tôi đi lại đường này
Dưới gông cùm lửa sắt
Ca hát những ngày mai”
(Tế Hanh dịch từ tiếng Pháp)
Những năm tháng mà Như Quỳnh đã trải qua, cũng như bản án 10 năm tù kia, đều chỉ làm cho cuộc đời chị thêm đẹp.
Đấu tranh vì tự do cho cả một dân tộc – đó là một cuộc đời đáng sống. Phải không, bạn yêu mến?

Tuesday, May 16, 2017

Nước mất, hãy tìm nước, chớ tìm cha

Ngược dòng lịch sử : Tượng đài cha và con và dòng chữ : "nước mất, hãy tìm nước, chớ tìm cha".
Đó là tượng Nguyễn sinh Sắc lão nhân gia và người mà ai cũng biết, con trai của lão nhân gia.
Về con trai người thì ai cũng biết, tôi xin kể anh chị nghe về Sắc lão nhân gia, bố của người, mà thôi.

 Image may contain: 2 people, people standing

Sắc lão nhân gia học đéo giỏi, thi lẹt đẹt, và được đỗ vớt. Sở dĩ được đỗ vớt, là do bác Dục ( Cao Xuân Dục thượng thư bộ học ) vớt lên, tại sao vớt, à, là do trả ơn thày dạy, mà thày dạy bác Dục, chính là bố Sắc lão nhân gia người vừa đc vớt .( Hồ sĩ Tạo, tại sao anh họ nguyễn mà bố lại họ Hồ, đó là 1 câu chuyện khác ) 
Sắc lão nhân gia dưới phân 2 thằng khác, để vớt lão nhân gia, thì phải vớt luôn 2 thằng kia, thế là 3 anh nghênh ngang áo mũ như ai.

Sở dĩ 2 thằng kia được áo mũ vênh vang về làng, cũng là nhờ công Dục lão anh hùng, lão anh hùng muốn con trai của thầy mình rạng danh làng xóm, mới xin vua ban cho áo gấm, chứ bọn đỗ phó bảng trước là đéo có.  Phó bảng, tức là bảng phó aka bảng phụ.  Bọn đỗ xịn, được ghi tên ở bảng chính treo 3 ngày ở ngọ môn, bảng to màu mè đẹp quá. bọn bảng phó méo mó nhỏ hơn, chữ nhỏ hơn cũng, treo 3 canh giờ thì hạ mẹ luôn.
À trong đống đỗ vớt đó có Phan chu Trinh lão anh hùng lừng danh cũng.  Bọn phó bảng, theo tôi cũng đéo có vị cặc gì. 

Sắc lão nhân gia về kinh, thời điểm này, anh hay bú diệu và đấm vợ, vợ anh ốm đau, quy tiên dịp này. 
Tôi thì cho là anh đc nâng đỡ về kinh đô học trường quốc tử giám, trường hoàng gia, bọn xịn chọc ngoái anh, anh cú đéo làm gì đc về nện vợ, chốn quan trường chúng nó mỉa mai đá đểu nhau kiếp lắm, là tôi đoán thế thôi. anh đc bổ làm thừa biện bộ Lễ, chức bé như hạt vừng từ 1902 - 1907.
Sau đổi anh về làm tri huyện Bình Khê ( bình định), 1 huyện nổi tiếng mất nết, chắc anh chị biết băng cướp dạo hồ thơm lừng danh ?? 
Lúc này, bi kịch bắt đầu, sử Việt nói anh treo ấn từ quan ahihi, lòng người sao quá điêu ngoa, có cái cc ý mà treo ấn.

Thời điểm này kinh tế đi xuống, vua mới tăng thuế đinh hay điền đéo nhớ, thì có 1 lũ ngu phản đối sắc thuế, chúng ra của quan, hò hét ỏm tỏi. ( hao hoa giống lũ cẩu ra cổng ủy ban đòi người hôm qua ở nghệ an).
Quá đen cho chúng, Sắc lão nhân ra là người đéo nói nhiều, anh thét lính, tóm cổ 1 thàng cứng đầu nhất, oánh cho má nhìn hổng ra.  Rất đen cho anh, thàng đó về chết như 1 con chó chết, lưỡi lè ra.
Rất đen nữa, người nhà nó có thằng biết chữ, chúng kiện vượt cấp. ( cần nhớ ngày xưa, kiện vượt cấp giam 10 ngày đánh 100 roi, rồi mới xét đơn ) Rất đen nữa, Sắc lão nhân gia lúc đó máu đầy cồn, thì anh lúc đéo nào chả diệu hehe triều đình tra xét là anh có cồn. Lại rất đen nữa, làn sóng phản đối thuế lên mạnh, Vua chọn anh để tế thần an - dân, anh bị kết tội : " trảm giam hậu" aka giam chờ chém.
Lại nhờ thượng thư bộ Dục hóng hớt đc tin, báo anh trước khi lính triều đình về tóm anh, cần nhớ hồi đó đéo có phôn khôn, Thượng thư bộ học cao xuân dục hóng hớt đc sớm hay quá.
Sắc lão nhân gia vắt chân lên cổ, chuồn khẩn, giờ kêu bằng trốn nã. anh lặn 1 hơi vào xứ đông - pháp aka Nam kỳ, thời đó là đất của Pháp theo thỏa ước với vua Annam.
Rất đen cho Sắc lão nhân gia, trong thỏa ước, có điều khoản dẫn độ tội phạm, lão nhân gia phải trốn chui nhủi nay đây mai đó, rất là cực. 
Sử đề lão nhân gia bốc thuốc cứu người thời gian này, tôi cho là phịa, lão nhân gia đéo có trình thuốc, chỉ có trình diệu, nghề của anh là viết sớ dạo, thế thôi, vì anh phải di chuyển liên tục trốn nã.
Rồi anh dược gả 1 cô vợ trẻ, đẻ vài con, và tiên du giá hạc khi già, anh trốn nã thành công, chúc mừng anh.
Bọn triều đình thối nát thời đó có nhiều việc, chúng quên anh hehe may mắn làm sao. 
Dòng chữ : " chớ tìm cha " là vô cùng chuẩn, vì có tìm, cũng đéo biết đàng con cặc nào mà tìm vua trốn nã. 

Mình vui thì mình gõ thôi không có ý gì đâu.
Mong Đảng, chính phủ cho tôi cái nhà sơn xanh xí xổm đầu hồi tam cấp ko thò ra phố, tôi xin lâu lắm rồi đó mong chính phủ cấp nhanh để tôi yên tâm biên lách.
Mong lắm thay.
( bài biên sử dụng tham luận của hình bộ thượng thư trai súc Phong lão huynh đài )

Saturday, August 13, 2016

Có một bông hồng cho đêm Giáng sinh - Dương Nghiễm Mậu


Có một bông hồng cho đêm Giáng sinh

Anh Nguyễn bỏ chúng tôi lại, anh không nói gì, anh đi xa mãi phía bên kia gốc thông lớn, cho tới khi đứng giáp khoảng đất trống với sườn đồi dốc phía sau, anh ngừng lại. Anh dang rộng chân vừa bước vừa đếm cho tới gốc thông thì anh dừng lại, ngửng lên nhìn chúng tôi và nói :
- Khoảng mười tám thước, rộng quá.
Anh Nguyễn có vẻ hài lòng khi trở lại, anh chỉ sang nền nhà, công việc còn dở dang :
- Chịu không, nhà tôi đó, nhà vợ chồng cậu thế này, tôi dự định cho tới giáng sinh sang năm thì tôi dọn sang nhà mới.
Tôi nhìn sang Lam :
- Chịu không?
Lam mỉm cười sung sướng :
- Chịu.
Nói hết câu Lam cười thành tiếng. Anh Nguyễn giọng đùa giỡn :
- Chịu từ lâu rồi phải không?
Anh Nguyễn chưa ngừng lại với câu chuyện làm nhà mà anh dự tính, anh kéo chúng tôi vào trong, nơi tận cùng của vạt đất, phía dưới là sườn đồi dốc, thung lũng đã được khai hoang từ lâu, nơi đó những thửa rau vuông vức, những vạt vườn xanh, những khoảng như mới bắt đầu một vụ mới với màu đất nâu tươi. Dựa lưng vào sườn đồi bên kia, không xa bao nhiêu, mấy ngôi nhà ngói nhỏ xinh xắn, màu ngói còn tươi và những hàng cây trồng còn thấp.
Giọng anh Nguyễn vẫn ở bên, niềm vui như reo mừng trong tiếng nói :
- Tôi quyết định lên đây, chấm dứt tình trạng không nhà cửa. Phải có một cái gì của mình chứ, đây, cậu thấy không, ngôi, nhà đến đây, khoảng này mình trồng đào, mận, vạt đất bên trồng rau, có sân chơi cho trẻ em, tôi thấy đây là đất lành mình có thể định cư được.
Tôi như lây niềm vui với người bạn lớn tuổi. Vừa đặt chân lên Đà Lạt, tới thăm anh Nguyễn, anh đã giữ chúng tôi lại, lấy xe chở chúng tôi lên khoảng đất anh mới mua được để cất nhà, không những thế, anh còn muốn chúng tôi cũng lập nghiệp và làm nhà ngay bên nhà anh, trong vạt đất anh có, anh Nguyễn nói: rộng quá, muốn có cậu ở cho vui. Trên xe tới khoảng đất đã được rào lại, một nền nhà đã thành hình, anh nói cho tôi và Lam thấy những dự tính của anh, nào kiểu nhà, làm nhà gỗ hay nhà gạch, phải làm thế nào. Anh làm cho tôi có cảm tưởng rằng tôi đã quyết định lên thành phố trên cao này lập nghiệp. Anh nói: Thấy cậu lấy vợ ta mừng quá. Bây giờ phải lo nhà cửa đi. Câu chuyện cứ như thế miên man không ngừng lại được, một ngôi nhà trên đồi, đó cũng từng là giấc mơ của tôi, phải, đó là một giấc mơ mỗi khi tôi lên đây nghỉ thường niên. Nghĩ đến một ngôi nhà cho riêng mình, tôi thấy quá xa vời. Cuộc sống bấp bênh, đời quân ngũ khiến cho tôi có lúc thấy như không có một thời cho mình xây dựng. Tôi nhìn Lam và thương nàng vô hạn. Lam biết rõ đời sống của tôi nhưng tình yêu đã giúp chúng tôi thoát vượt những khó khăn để sống bên nhau. Một ngôi nhà nơi đây, dưới những ngọn thông cao, bên những hàng rào đầy hoa, cùng với người bạn mình, hẳn đó cũng là mơ ước của Lam. Giọng anh Nguyễn lớn tiếng :
- Mấy cây đào mình trồng mới hơn ba tháng mà hy vọng lắm, không chết một gốc nào.
- Nhưng bao giờ thì có trái?
Anh Nguyễn nghiêm mặt lại :
- Thì cũng phải có thời gian chứ, cậu làm như trồng hôm nay mai đã có trái, bởi vậy mình phải xúc tiến sớm, bao giờ cậu bắt đầu?
Tôi nhìn Lam, Lam nhìn tôi, chúng tôi đều mỉm cười :
- Ít ra thì cũng phải mùa hè.
- Lâu thế...
- Anh làm như muốn thì được.
- Trời ơi, tận mùa hè lận.
- Thì Lam còn phải dạy hết niên học này, rồi tôi còn ở trong quân đội... Mà Lam xin đổi cũng khó lắm chứ đâu dễ.
- Ừ nhỉ, kẹt...
Anh Nguyễn nhìn bọn tôi và cười :
- Nhưng chắc chắn chứ?
Tôi gật đầu như quả quyết :
- Chắc chắn, bọn tôi sẽ dựng một cái lều tranh...
- Một cái lều tranh hai trái tim vàng, nghe mùi ghê.
Anh Nguyễn cười lớn, chúng tôi trở về thị trấn lúc bấy giờ chiều đã xuống, sương lam dày đặc dưới những thung lũng. Tới chợ chúng tôi chia tay nhau. Anh Nguyễn dặn :
- Tôi để cho hai vợ chồng tự do, nhưng tối mai phải lại, nhớ nghe.
Lam nói dạ, anh Nguyễn vẫy tay trước khi cho xe chạy xuống con dốc lớn. Lam nói :
- Bạn của anh vui thật, làm như mai bọn mình đã ở trên này. Anh ấy tốt quá nhỉ...
Tôi cầm lấy tay Lam và qua đường. Nền trời sẫm, dãy phố cũ bên kia lẩn vào trong bóng tối của hàng cây. Trời lạnh khô, những cơn gió mạnh thổi tờ giấy trắng là là trên mặt đường dốc. Tôi nắm chặt tay Lam :
- Mình đi ăn chưa?
- Em thấy đói rồi.
Chúng tôi bước vào nhà ăn quen thuộc. Bữa ăn đơn giản với những món ăn thích hợp cho miền lạnh: canh cải nóng, thịt đông dưa chua và một món rau xào. Tôi nhìn Lam nói :
- Lên trên này làm anh nhớ tới quê ngoài Bắc, mùa đông rét buốt, mùa xuân rét ngọt... Bao giờ hòa bình thống nhất bọn mình sẽ về ngoài đó...
Lam mỉm cười, nụ cười quen thuộc, chừng như mỗi lần tôi nhắc đến quê hương, nhắc tới Hà Nội là tôi lại thấy nụ cười đó trên môi Lam, và thường bao giờ Lam cũng nói: anh chỉ nghĩ đến quê anh, còn quê em, anh không yêu quê em phải không? Em về chơi thôi, không về ở ngoài đâu, em ở trong này một mình cũng được. Quê hương, mẹ hiền, tôi không lúc nào không tưởng nhớ đến. Một giây phút khí hậu xao động đổi thay, một đọt nắng trên ngọn cây, một món ăn, một con đường thường nhắc nhở tôi tới một thời đã xa, quê nhà, mái ngói nâu yêu dấu, mẹ hiền và một thuở thanh bình hiền dịu trong đời sống ấu thơ ngọt ngào. Đôi mắt Lam mở lớn nhìn tôi :
- Hôm nào mình khởi công làm nhà anh?
Tôi cười :
- Để còn phải coi ngày nữa chứ, và nhất là phải vẽ kiểu nhà, thôi anh giao cho em đó.
- Thế mình làm mấy tầng?
Tôi gật đầu như suy nghĩ :
- Thôi mình cất một tầng cho thân mật, nhà rộng quá ở sợ ma chết.
- Thôi mình cất nhà tranh đi.
- Cũng được.
- Nhưng bây giờ mua tranh khó và đắt tiền lắm...
- Thôi, vậy để tính sau vội gì.
Tôi nói hết câu, hai đứa cười ồ, chúng tôi thú vị với trò chơi.
Khi ra khỏi quán ăn, đèn đường đã bật sáng, những ngọn đèn quanh hồ tạo thành một vùng ánh sáng xanh biếc. Khu phố chợ vắng người. Trên đường chỉ còn lại những người đi dạo, chừng như đó là những người khách từ nhiều nơi xa tới trong dịp lễ Giáng Sinh, còn lại, những người của thị trấn đều đã rút vào trong những cánh cửa đóng kín. Chúng tôi đi xuống phía hồ. Giọng Lam êm nhẹ :
- Nhất định mình sẽ lên trên này lập nghiệp nghe anh, khí hậu ở trên này làm cho má con nít lúc nào cũng đỏ hồng.
Tôi giữ chặt tay Lam :
- Em sẽ đi dạy, anh làm vườn được không, nhưng bao giờ...
- Vậy mà xưa kia anh nói, năm nay...
Không còn bộ quân phục trên người, nhưng để có những ngày nghỉ cuối năm, tôi phải có tờ giấy phép. Tờ giấy nhắc nhở những ràng buộc khe khắt. Ra đi đúng ngày, trở về đúng ngày, chúng tôi phải thu xếp lấy cuộc sống trong những giới hạn. Giải ngũ, mấy năm trước tôi như mơ hồ nhìn thấy, giải ngủ, hòa bình đến, nhưng điều ấy vẫn chưa là sự thực. Câu chuyện về một dự định tương lai bỗng làm xuất hiện một mơ ước chưa thành. Tôi an ủi Lam :
- Chẳng lẽ đánh nhau mãi, rồi phải có hòa bình chứ, khi chúng ta có con thì chắc có hòa bình rồi.
Lam đi sát vào tôi. Ánh đèn làm sáng lên những khoảng nhỏ thiên nhiên, cảnh vật như trong một giấc mơ êm dịu. Tôi muốn nói lời chịu ơn Lam. Trở lại thị trấn trên cao, hạnh phúc ngọt ngào nhắc tôi những kỷ niệm cũ, những kỷ niệm cô quạnh trong những ngày nghỉ cuối năm ở đây, nơi tôi thường tới mỗi năm. Năm nào tôi lang thang với Dũng trên chiếc xe gắn máy cũ, hai đứa đua nhau lên Suối Vàng, đường dốc xe chết máy, ngồi nghỉ trên nghĩa trang chúng tôi đi lần theo hàng mộ bia đọc tên những người đã chết. Nơi đây Dũng đã bật khóc khi đứng trước mộ Dung, người tình cũ của Dũng, tôi nhớ tấm ảnh tươi cười của người đã khuất. Dũng nói: tôi đâu biết nàng đã chết. Dũng khóc nhắc lại những trắc trở trong cuộc tình duyên và sự mất tích của Dung trong thành phố. Dũng ngồi lặng im cho đến khi chiều xuống mới trở về và chúng tôi say trong quán rượu. Năm nào tôi ngồi với Tâm trong phòng vẽ. Ngày nào tôi với Niệm lang thang trên những đồi cỏ may hồng. Năm nào, những cơn mưa tầm tã giữ tôi lại suốt trong tuần lễ, khi lên xe trở về thì trời hửng nắng. Khí hậu lạnh, thiên nhiên tươi mát là nơi tôi chọn cho những giây phút nghỉ ngơi. Nhưng năm nay, một đổi thay chờ đợi đã đến. Lam đưa đến cho tôi những ngày mới. Nhưng mơ ước hòa bình từ bao giờ vẫn chưa đến...
Chúng tôi ghé vào nhà Thủy tạ, nhạc êm dịu ấm cúng, những cửa kính mờ hơi nước. Lam muốn ngồi ngoài trời, nhưng gió lộng và sương ẩm khiến chúng tôi phải bỏ ý định. Một ly cà phê nóng, một ly trà nóng, vắt chanh vào trong ly, mùi chanh thơm nồng, Lam nói :
- Anh định làm nhà trên này thật sao?
Tôi cười :
- Làm, nhưng chưa.
- Vậy anh phải nói với anh Nguyễn chứ, hình như anh ấy yên chí bọn mình sẽ làm nhà, sẽ lên đây ở.
- Anh Nguyễn muốn mình ở chung với gia đình anh cho vui, anh ấy cũng biết, anh mong có một ngôi nhà.
Ngụm cà phê thứ nhất, điếu thuốc mới. Anh Nguyễn, một trong vài người bạn vong niên của tôi, những người đã giúp tôi sống trong nhiều năm nay, tình bằng hữu đùm bọc cưu mang đã giúp tôi giữ được đời sống mình. Trước khi chúng tôi làm lễ cưới, anh Nguyễn trở về thăm tôi. Anh xin lỗi không thể về dự đám cưới, nhưng anh trông chúng tôi sẽ lên chơi ít ngày. Anh Nguyễn cười cười bảo: Bọn nó nói cậu giàu lắm. Tôi cười: Anh tin. Anh Nguyễn giọng nghiêm: Bọn nó nghĩ cậu đi ăn cướp đó. Trước khi về anh cho tôi tiền, anh nói: Cho bọn cậu một ít làm vốn bán bánh mì xe. Nhưng anh cũng không quên: Lên đi, có việc hay lắm, lên mới tính được. Tôi không nghĩ khi lên anh sẽ nói chuyện làm nhà. Một mái nhà, chắc không phải ước mơ của riêng tôi. Sau bao năm bỏ quê hương, tôi thấy mình thiếu hẳn nơi để trở về, tôi mơ ước một lúc nào đó lên cao nguyên khẩn hoang, làm cho mình một mái nhà vì tôi hiểu rằng: giấc mơ trở về quê hương có lẽ đời tôi không thực hiện được. Mà đến đời con tôi, khi trở về nó còn nhận được ra đâu là lối đi tôi đã bước qua, ngôi nhà nào tôi đã được sinh ra và lớn lên, cho tới khi ấy, còn không dấu vết của một thời đã xa lắc, biệt tăm trong trí nhớ những người sống sót. Khi trở về, con đường hoàn toàn vắng vẻ, ngang qua một hàng rào, tôi ngừng lại với tay bẻ cho Lam một cụm hoa tầm xuân, mùi thơm hoang dã nồng nàn. Tôi nói :
- Biết đâu mùa hè này mình lại không thể lên đây làm ngôi nhà bên cạnh nhà anh Nguyễn, sớm mai thức dậy, hòa bình đã đến...
Lam giữ chặt tay, nàng nhìn tôi, trong bóng đêm tôi thấy đôi mắt Lam long lanh sáng như một ngôi sao lạc trong nền trời tối.
Vợ chồng tôi là những người khách thứ nhất, anh chị Nguyễn chạy lên chạy xuống lo bữa ăn tối cho chúng tôi. Anh Nguyễn nói :
- Có mấy người bạn thân thôi, lâu lâu có dịp gặp nhau chứ mình đâu có theo đạo.
Anh Nguyễn rót cho tôi một ly rượu. Lam xuống bếp giúp chị Nguyễn, mấy người bạn của gia đình anh Nguyễn dần dần đến đông đủ. Chúng tôi không phải là người Thiên Chúa giáo bữa ăn đêm Giáng sinh mang một ý nghĩa khác, nhưng có lẽ cũng giống với những gia dinh Thiên Chúa giáo phần nào, bữa ăn của xum họp. Bữa ăn vui và ngon miệng. Chúng tôi nhận được những lời chúc mừng thân thiết. Lam có lúc ngượng ngùng, mặt đỏ, đôi mắt cuống quít khi chị Nguyễn mong cho tới Giáng sinh sang năm chúng tôi có cháu bé. Chúng tôi ra về sớm nhất, tôi nói :
- Bọn tôi muốn đi chơi đêm.
Anh Nguyễn cười :
- Phải rồi, bây giờ còn đi chơi được chứ ít năm nữa thì hết, như bọn tôi.
Anh Nguyễn ngừng lại, chợt anh nói :
- Quyết định về cái nhà chưa?
- Rồi, quyết định rồi.
Anh Nguyễn im lặng, vẻ mặt như chờ đợi, tôi nói :
- Anh chờ cho đến mùa hè được không, bây giờ thì chịu, hay là...
Tôi ngừng lại giây lát :
- Nhưng thôi anh ạ, để sang năm lên ở với anh chị, nhà cũng rộng mà...
Anh Nguyễn cười :
- Ừ cũng được, Giáng sinh sang năm thì mình có nhà mới rồi, lên nghe...
Chúng tôi rời nhà anh chị Nguyễn. Trên những con đường dẫn tới giáo đường chính dòng người đổ như thác, tất cả mọi người như đã mở rộng một tấm lòng chào đón, chúng tôi ở trong dòng người tới giáo đường. Bông hồng đỏ chị Nguyễn tặng Lam có lúc phải đưa lên cao, Lam sợ bị dập vì người chen chúc. Đèn sáng cả một vùng giáo đường, khoảng sân nhỏ như nêm, khi lễ giữa đêm bắt đầu, tiếng hát từ trong giáo đường như làm cho mọi tiếng động lẩn trốn, cả thiên nhiên cũng như đang chan hòa một niềm hy vọng.
Giọng Lam ở bên :
- Anh biết em cầu nguyện gì không?
Tôi nhìn Lam, khuôn mặt rực rỡ :
- Anh nghe thấy, anh nghe thấy.
Đôi mắt Lam ngước nhìn lên cao, tháp chuông với ngôi sao kết đèn sáng rỡ, trên cao đó, chỉ có ánh sáng.
Khi trở về, đứng nơi dốc vắng, nhìn lại giáo đường, chúng tôi vẫn thấy ánh sáng rực rỡ ở đó. Tôi mua cho Lam một quả bóng đỏ. Lam cột bông hồng của chị Nguyễn vào sợi dây, nàng giơ cao lên nói :
- Em muốn tặng bông hồng cho những người ở xa, những người ít may mắn...
Tôi mỉm cười, Lam thả tay ra, trái bóng lên cao rồi từ từ bay theo chiều gió mang bông hồng đỏ. Chúng tôi nhìn theo cho tới khi trái bóng và bông hồng lẩn vào trong bóng tối ở xa...