Friday, June 30, 2017

Cộng sản có đối thoại được không?

Mới đây trưởng ban tuyên giáo trung ương, uỷ viên bộ chính trị trẻ nhất trong số các uỷ viên bộ chính trị của cộng sản VN là Võ Văn Thưởng đã phát biểu.
 
“Ban Tuyên giáo Trung ương đang chờ Ban Bí thư thông qua một văn bản hướng dẫn về việc "tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đây là vấn đề rất quan trọng. Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý.
Phát biểu như thế này từ một uỷ viên bộ chính trị, trưởn ban tuyên giáo gây xôn xao dư luận là việc đương nhiên. Phần lớn những người mà ông Thưởng liệt kê vào dạng cần đối thoại đã tỏ ý nghi ngờ đằng sau phát biểu ấy là một âm mưu. Điều này cũng không có gì lạ, bởi trong quá trình hàng mấy chục năm cầm quyền, chuyện nói dối hoặc hứa rồi nuốt lời của lãnh đạo cộng sản xảy ra thường xuyên và cho đến tận bây giờ họ cũng đang như cũng vậy.
 
Các giả thiết đưa ra cho rằng đây là âm mưu lừa đảo, mị dân, khơi cho trăm hoa đua nở rồi tận diệt như bên Tàu. Cái này đúng, trước kia đúng và bây giờ vẫn đúng. Bằng chứng là chính lúc ông Thưởng đặt vấn đề như vậy, thì thực tế diễn ra ngay trong lúc ông nói là chính quyền gia tăng đàn áp những người bất đồng chính kiến bằng những thủ đoạn tàn bạo và nham hiểm mạnh tay hơn.
Hoặc có thể cộng sản Việt Nam dựng nên đối thoại nhằm mục đích biện minh và lấy uy tín cho mình, họ sẽ cho những người dễ dãi hoặc những chim mồi giả vờ tham gia đối thoại, sau đó công nhận đảng CSVN đang có hướng đi đúng, có thành quả này kia. Họ cũng nêu một chút gì đó để trách cứ chế độ cộng sản cho ra vẻ khách quan. Để rồi sau đó đảng CSVN tuyên truyền đã đối thoại thẳng thắn và được đa số ủng hô, tán thành chủ trương của họ. Còn một số khiếm khuyết do khách quan không đáng kể, nước nào cũng có sẽ khắc phục dần.
 
Nhưng tuy nhiên cũng nên thử đặt một cạnh nhìn khác, dù khả năng của nó chỉ chiếm một phần nhỏ nhoi hy vọng, đó là đặt vấn đề cho rằng ông Thưởng nói thật.
Vậy trong trường hợp nào thì ông Thưởng nói thật tâm.?
Trường hợp trong nôi bộ đảng cộng sản có những nhóm thực lòng muốn đối thoại với dân, để mong thế hệ lãnh đạo tương lai của cộng sản với người dân có những điều dễ gần hơn, dễ nói chuyện hơn, không có những khoảng cách như nhân dân và lãnh đạo bây giờ. Điều này có thể xảy ra vì cộng sản luôn tính trước những tình huống xấu dự phòng.
 
Ông Võ Văn Thưởng là uỷ viên BCT trẻ nhất trong các uỷ viên Bộ chính trị bây giờ, có thể nói ông là đại diện cho thế hệ lãnh đạo của hai nhiêm kỳ sau này. Bản thân ông Thưởng là người không có điều tiếng gì xấu so với các lãnh đạo khác, bởi những vị trí của ông đã kinh qua không phải là những vị trí dễ bị dính vào vòng xoáy của tham nhũng, lợi ích nhóm. Xét thêm yếu tố này cùng với yếu tố trước thì câu chuyện khả năng cộng sản Việt Nam có thể mong muốn đối thoại là có thật, nhưng nó không phải là bây giờ, và hơn hết nó chỉ là một phương án dự phòng của chế độ cộng sản cho tương lai.
Không phải phát biểu trên của ông Thưởng bị những nhà đấu tranh nghi ngờ và chỉ trích nặng lời, mà ngay cả những cán bộ của đảng lão thành, thủ cựu về hưu cũng như đang tại chức cũng khó chịu khi thấy ông Thưởng nói vây.. Với sự kiêu ngạo về quyền lực độc tài tuyệt đối của đảng CSVN có được nhiều năm qua, họ cảm thấy những phát ngôn của ông Thưởng là sự xuống nước của đảng, làm cho dân chúng không còn sợ đảng, mất đi sức mạnh của đảng , tức chính là mất đi quyền lực của họ.
Nếu như phát biểu này của ônng Võ Văn Thưởng xuất phát từ miệng ông Đinh Thế Huynh, Nguyễn Phú Trọng...chắc hẳn đó là sự lừa đảo, vì bản chất của những người như ông Trọng, ông Huynh là những kẻ bảo thủ đang cố gắng gia tăng quyền lực của đảng, bất chấp sự phi dân chủ và tiến bộ. Nhưng nếu từ một uỷ viên BCT trẻ tuổi như ông Thưởng, người cũng ít thấy dư luận phê phán ở những cương vị ông trải qua. Thiết nghĩ việc đề phòng cộng sản Việt Nam nói dối phải đặt hàng đầu, nhưng cũng nên để một góc nhỏ để suy ngẫm về những phát ngôn này theo hướng tích cực. Khi cộng sản Việt Nam đã đưa ra những biện pháp thuộc dạng đề phòng cho tương lai như thế này, chúng ta cũng nên cân nhắc vấn đề, dù không tin tưởng nhưng không có nghĩ người bất đồng chính kiến bác bỏ hoàn toàn, những người đấu tranh cũng nên đặt ra những tình huống dự phòng cho dù tỷ lệ hy vọng việc đó thành công là chỉ vài phần trăm.
 
Những người trí thức đấu tranh ôn hoà từng bị tù đày về bất đồng chính kiến với chế độ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung , Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn và nhiều người khác ở trong nước có thể thống nhất với nhau để cử ra đại diện bất đồng chính kiến để đề nghị đối thoại với ông Võ Văn Thưởng xem thái độ và hành xử của vị uỷ viên Bộ Chính Trị, trưởng ban tuyên giáo này ra sao, đó cũng là một cách đấu tranh ôn hoà , dân chủ và tiến bộ. 
 
Nếu bị khước từ, hay bị những thủ đoạn cản trở thì đó cũng là cách lột mặt nạ gian dối của chế độ này cho quốc tế và nhân dân trong nước thấy rõ hơn.
 
-- Người Buôn Gió

Thursday, June 29, 2017

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI TRẺ, NHÂN PHIÊN XỬ MẸ NẤM

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI TRẺ, NHÂN PHIÊN XỬ MẸ NẤM
by Pham Doan Trang



Ngày hôm nay, một phiên tòa chính trị đã diễn ra ở Nha Trang, nơi người ta xử một phụ nữ trẻ, mẹ của hai đứa con nhỏ. Đó là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, 38 tuổi.
Người ta không cho chị mặc chiếc áo trắng mà mẹ của Quỳnh gửi vào trại giam cho con. Người ta bắt chị phải mặc một cái áo phông không cổ, với những hình vẽ của trẻ con trước ngực.
Người ta chặn phố xá, chặn mọi ngả đường đến tòa. Nha Trang bỗng như trong tình trạng thiết quân luật.
Người ta không cho cả mẹ ruột của chị vào trong phòng xử án. Sau một hồi “đấu tranh” quyết liệt, mẹ chị mới “được phép” vào ngồi ở phòng bên cạnh, theo dõi phiên tòa qua màn hình.
Người ta từ chối tranh tụng với luật sư, từ chối trả lời các lập luận bào chữa của luật sư.
Và cuối cùng, người ta áp đặt cho Quỳnh một bản án với con số làm nhiều người sửng sốt: 10 năm tù.
* * *
Quỳnh là ai và đã làm gì để người ta phải căm thù chị như vậy?
Chị là một nhà hoạt động nhân quyền. Chị yêu đất nước, con người Việt Nam. Vì yêu mãnh liệt, nên chị mong muốn Việt Nam thay đổi, trở nên tự do và dân chủ, để người dân được sống hạnh phúc, những đứa con của chị được lớn lên trong niềm vui hồn nhiên của những đứa trẻ bình thường ở một đất nước bình thường. Chị mong muốn thiên nhiên, môi trường ở xứ sở này mãi xanh, biển mãi dồi dào cá, không khí mãi trong lành, và Nha Trang của chị sẽ mãi là một thành phố du lịch xinh đẹp bên bờ đại dương.
Chị không muốn con cái chị lớn lên ở một đất nước nơi mà chỉ cầm tấm biển “Cá cần nước sạch”, đã bị khép tội, hay thanh niên chỉ cần có dự định “ra nước ngoài học về xã hội dân sự” là đã bị cấm xuất cảnh, hoặc nếu đi được, thì trở về sẽ bị câu lưu ở sân bay. Chị không muốn Nha Trang ngập tràn những dự án cướp đất của dân, những du khách Tàu xì xồ thứ tiếng ngoại quốc, một thành phố đầy rác và bụi. Không muốn một đất nước ngột ngạt vì nạn công an bạo hành và tòa án bất công. Một đất nước với những rừng cây trơ trụi, những núi đá tan hoang, những vùng biển nhiễm độc, hiu quạnh bóng tàu bè…
Còn người ta là ai? Người ta là những đại diện của nhà nước này – những kẻ không chia sẻ tình yêu đất nước của chị Quỳnh, và cũng không muốn ai có tình yêu ấy. Suy cho cùng, bản án 10 năm tù mà người ta áp đặt cho Quỳnh hôm nay là để đe dọa, ngăn cản người dân Việt Nam yêu nước, hoặc yêu thương nhau.
Người ta không cần dân chúng phải yêu nhà cầm quyền, chỉ cần dân chúng đừng yêu nước và đừng yêu thương nhau, và tốt nhất là hãy nhìn vào mức án 10 năm đó mà sợ hãi hoặc tuyệt vọng, chán nản.
* * *
Nhưng, có ai sợ hãi, tuyệt vọng, chán nản không?
Có gì phải sợ, tuyệt vọng, buồn hay chán. Nếu chúng ta nhìn vào những việc Quỳnh đã làm, chúng ta sẽ chỉ thấy nổi lên một điều thôi: Tình yêu của Quỳnh dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Vì tình yêu ấy, nên cuộc đời chị đẹp lắm. Chị hiên ngang đứng giữa vòng vây công an và dân phòng ở Sài Gòn, giương cao khẩu hiệu: Vì một quốc gia cường thịnh, phải thay đổi! Chị cất cao tiếng nói đòi nhà nước pháp quyền, đòi xóa bỏ những điều luật hà khắc và vô lý như 258 Bộ luật Hình sự. Chị đến với những người dân nghèo mất đất, những nạn nhân của bất công và oan sai, để giúp đỡ họ về tinh thần và vật chất, và hướng dẫn họ đấu tranh. Chị bảo vệ quyền cho dân oan, cho những người bị chà đạp bởi một hệ thống hành pháp và tư pháp còn nhiều sai trái, bạo ngược.
Trên tất cả, cuộc đời chị đẹp bởi vì chị đã tranh đấu cho tự do, ngẩng cao đầu và không sợ hãi.
Này bạn. Nếu bạn cũng tranh đấu cho tự do của một đất nước, cho nhân quyền của người dân, cũng ngẩng cao đầu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi như Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bạn cũng sẽ cảm nhận được rằng cuộc đời đẹp lắm, tuổi trẻ của bạn đẹp lắm.
Ngày hôm nay, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nói trước tòa: “Mỗi người chỉ có một cuộc đời, nhưng dù được làm lại con vẫn sẽ làm như vậy và con tin mẹ và các con sẽ không bao giờ phải hối hận mà sẽ tự hào vì con. Tôi mong muốn xây dựng một xã hội và đất nước tốt đẹp. Một quốc gia chỉ tự cường khi nó luôn gắn liền với nền tảng một xã hội mà người dân có tự do và hạnh phúc. Tôi mong rằng mọi người sẽ lên tiếng và đấu tranh, vượt qua nỗi sợ hãi của chính bản thân mình để xây dựng một đất nước tươi đẹp hơn”.
Những lời chị nói gợi nhớ đến “Bài ca của người hát trong ngục tù tra tấn” – tác phẩm để đời của thi sĩ tài danh của nước Pháp, Louis Aragon:
“Nếu phải đi trở lại
Tôi đi lại đường này
Một tiếng từ ngục tối
Nói đến những ngày mai”
“Nếu phải đi trở lại
Tôi đi lại đường này
Dưới gông cùm lửa sắt
Ca hát những ngày mai”
(Tế Hanh dịch từ tiếng Pháp)
Những năm tháng mà Như Quỳnh đã trải qua, cũng như bản án 10 năm tù kia, đều chỉ làm cho cuộc đời chị thêm đẹp.
Đấu tranh vì tự do cho cả một dân tộc – đó là một cuộc đời đáng sống. Phải không, bạn yêu mến?

Tuesday, May 16, 2017

Nước mất, hãy tìm nước, chớ tìm cha

Ngược dòng lịch sử : Tượng đài cha và con và dòng chữ : "nước mất, hãy tìm nước, chớ tìm cha".
Đó là tượng Nguyễn sinh Sắc lão nhân gia và người mà ai cũng biết, con trai của lão nhân gia.
Về con trai người thì ai cũng biết, tôi xin kể anh chị nghe về Sắc lão nhân gia, bố của người, mà thôi.

 Image may contain: 2 people, people standing

Sắc lão nhân gia học đéo giỏi, thi lẹt đẹt, và được đỗ vớt. Sở dĩ được đỗ vớt, là do bác Dục ( Cao Xuân Dục thượng thư bộ học ) vớt lên, tại sao vớt, à, là do trả ơn thày dạy, mà thày dạy bác Dục, chính là bố Sắc lão nhân gia người vừa đc vớt .( Hồ sĩ Tạo, tại sao anh họ nguyễn mà bố lại họ Hồ, đó là 1 câu chuyện khác ) 
Sắc lão nhân gia dưới phân 2 thằng khác, để vớt lão nhân gia, thì phải vớt luôn 2 thằng kia, thế là 3 anh nghênh ngang áo mũ như ai.

Sở dĩ 2 thằng kia được áo mũ vênh vang về làng, cũng là nhờ công Dục lão anh hùng, lão anh hùng muốn con trai của thầy mình rạng danh làng xóm, mới xin vua ban cho áo gấm, chứ bọn đỗ phó bảng trước là đéo có.  Phó bảng, tức là bảng phó aka bảng phụ.  Bọn đỗ xịn, được ghi tên ở bảng chính treo 3 ngày ở ngọ môn, bảng to màu mè đẹp quá. bọn bảng phó méo mó nhỏ hơn, chữ nhỏ hơn cũng, treo 3 canh giờ thì hạ mẹ luôn.
À trong đống đỗ vớt đó có Phan chu Trinh lão anh hùng lừng danh cũng.  Bọn phó bảng, theo tôi cũng đéo có vị cặc gì. 

Sắc lão nhân gia về kinh, thời điểm này, anh hay bú diệu và đấm vợ, vợ anh ốm đau, quy tiên dịp này. 
Tôi thì cho là anh đc nâng đỡ về kinh đô học trường quốc tử giám, trường hoàng gia, bọn xịn chọc ngoái anh, anh cú đéo làm gì đc về nện vợ, chốn quan trường chúng nó mỉa mai đá đểu nhau kiếp lắm, là tôi đoán thế thôi. anh đc bổ làm thừa biện bộ Lễ, chức bé như hạt vừng từ 1902 - 1907.
Sau đổi anh về làm tri huyện Bình Khê ( bình định), 1 huyện nổi tiếng mất nết, chắc anh chị biết băng cướp dạo hồ thơm lừng danh ?? 
Lúc này, bi kịch bắt đầu, sử Việt nói anh treo ấn từ quan ahihi, lòng người sao quá điêu ngoa, có cái cc ý mà treo ấn.

Thời điểm này kinh tế đi xuống, vua mới tăng thuế đinh hay điền đéo nhớ, thì có 1 lũ ngu phản đối sắc thuế, chúng ra của quan, hò hét ỏm tỏi. ( hao hoa giống lũ cẩu ra cổng ủy ban đòi người hôm qua ở nghệ an).
Quá đen cho chúng, Sắc lão nhân ra là người đéo nói nhiều, anh thét lính, tóm cổ 1 thàng cứng đầu nhất, oánh cho má nhìn hổng ra.  Rất đen cho anh, thàng đó về chết như 1 con chó chết, lưỡi lè ra.
Rất đen nữa, người nhà nó có thằng biết chữ, chúng kiện vượt cấp. ( cần nhớ ngày xưa, kiện vượt cấp giam 10 ngày đánh 100 roi, rồi mới xét đơn ) Rất đen nữa, Sắc lão nhân gia lúc đó máu đầy cồn, thì anh lúc đéo nào chả diệu hehe triều đình tra xét là anh có cồn. Lại rất đen nữa, làn sóng phản đối thuế lên mạnh, Vua chọn anh để tế thần an - dân, anh bị kết tội : " trảm giam hậu" aka giam chờ chém.
Lại nhờ thượng thư bộ Dục hóng hớt đc tin, báo anh trước khi lính triều đình về tóm anh, cần nhớ hồi đó đéo có phôn khôn, Thượng thư bộ học cao xuân dục hóng hớt đc sớm hay quá.
Sắc lão nhân gia vắt chân lên cổ, chuồn khẩn, giờ kêu bằng trốn nã. anh lặn 1 hơi vào xứ đông - pháp aka Nam kỳ, thời đó là đất của Pháp theo thỏa ước với vua Annam.
Rất đen cho Sắc lão nhân gia, trong thỏa ước, có điều khoản dẫn độ tội phạm, lão nhân gia phải trốn chui nhủi nay đây mai đó, rất là cực. 
Sử đề lão nhân gia bốc thuốc cứu người thời gian này, tôi cho là phịa, lão nhân gia đéo có trình thuốc, chỉ có trình diệu, nghề của anh là viết sớ dạo, thế thôi, vì anh phải di chuyển liên tục trốn nã.
Rồi anh dược gả 1 cô vợ trẻ, đẻ vài con, và tiên du giá hạc khi già, anh trốn nã thành công, chúc mừng anh.
Bọn triều đình thối nát thời đó có nhiều việc, chúng quên anh hehe may mắn làm sao. 
Dòng chữ : " chớ tìm cha " là vô cùng chuẩn, vì có tìm, cũng đéo biết đàng con cặc nào mà tìm vua trốn nã. 

Mình vui thì mình gõ thôi không có ý gì đâu.
Mong Đảng, chính phủ cho tôi cái nhà sơn xanh xí xổm đầu hồi tam cấp ko thò ra phố, tôi xin lâu lắm rồi đó mong chính phủ cấp nhanh để tôi yên tâm biên lách.
Mong lắm thay.
( bài biên sử dụng tham luận của hình bộ thượng thư trai súc Phong lão huynh đài )

Saturday, August 13, 2016

Có một bông hồng cho đêm Giáng sinh - Dương Nghiễm Mậu


Có một bông hồng cho đêm Giáng sinh

Anh Nguyễn bỏ chúng tôi lại, anh không nói gì, anh đi xa mãi phía bên kia gốc thông lớn, cho tới khi đứng giáp khoảng đất trống với sườn đồi dốc phía sau, anh ngừng lại. Anh dang rộng chân vừa bước vừa đếm cho tới gốc thông thì anh dừng lại, ngửng lên nhìn chúng tôi và nói :
- Khoảng mười tám thước, rộng quá.
Anh Nguyễn có vẻ hài lòng khi trở lại, anh chỉ sang nền nhà, công việc còn dở dang :
- Chịu không, nhà tôi đó, nhà vợ chồng cậu thế này, tôi dự định cho tới giáng sinh sang năm thì tôi dọn sang nhà mới.
Tôi nhìn sang Lam :
- Chịu không?
Lam mỉm cười sung sướng :
- Chịu.
Nói hết câu Lam cười thành tiếng. Anh Nguyễn giọng đùa giỡn :
- Chịu từ lâu rồi phải không?
Anh Nguyễn chưa ngừng lại với câu chuyện làm nhà mà anh dự tính, anh kéo chúng tôi vào trong, nơi tận cùng của vạt đất, phía dưới là sườn đồi dốc, thung lũng đã được khai hoang từ lâu, nơi đó những thửa rau vuông vức, những vạt vườn xanh, những khoảng như mới bắt đầu một vụ mới với màu đất nâu tươi. Dựa lưng vào sườn đồi bên kia, không xa bao nhiêu, mấy ngôi nhà ngói nhỏ xinh xắn, màu ngói còn tươi và những hàng cây trồng còn thấp.
Giọng anh Nguyễn vẫn ở bên, niềm vui như reo mừng trong tiếng nói :
- Tôi quyết định lên đây, chấm dứt tình trạng không nhà cửa. Phải có một cái gì của mình chứ, đây, cậu thấy không, ngôi, nhà đến đây, khoảng này mình trồng đào, mận, vạt đất bên trồng rau, có sân chơi cho trẻ em, tôi thấy đây là đất lành mình có thể định cư được.
Tôi như lây niềm vui với người bạn lớn tuổi. Vừa đặt chân lên Đà Lạt, tới thăm anh Nguyễn, anh đã giữ chúng tôi lại, lấy xe chở chúng tôi lên khoảng đất anh mới mua được để cất nhà, không những thế, anh còn muốn chúng tôi cũng lập nghiệp và làm nhà ngay bên nhà anh, trong vạt đất anh có, anh Nguyễn nói: rộng quá, muốn có cậu ở cho vui. Trên xe tới khoảng đất đã được rào lại, một nền nhà đã thành hình, anh nói cho tôi và Lam thấy những dự tính của anh, nào kiểu nhà, làm nhà gỗ hay nhà gạch, phải làm thế nào. Anh làm cho tôi có cảm tưởng rằng tôi đã quyết định lên thành phố trên cao này lập nghiệp. Anh nói: Thấy cậu lấy vợ ta mừng quá. Bây giờ phải lo nhà cửa đi. Câu chuyện cứ như thế miên man không ngừng lại được, một ngôi nhà trên đồi, đó cũng từng là giấc mơ của tôi, phải, đó là một giấc mơ mỗi khi tôi lên đây nghỉ thường niên. Nghĩ đến một ngôi nhà cho riêng mình, tôi thấy quá xa vời. Cuộc sống bấp bênh, đời quân ngũ khiến cho tôi có lúc thấy như không có một thời cho mình xây dựng. Tôi nhìn Lam và thương nàng vô hạn. Lam biết rõ đời sống của tôi nhưng tình yêu đã giúp chúng tôi thoát vượt những khó khăn để sống bên nhau. Một ngôi nhà nơi đây, dưới những ngọn thông cao, bên những hàng rào đầy hoa, cùng với người bạn mình, hẳn đó cũng là mơ ước của Lam. Giọng anh Nguyễn lớn tiếng :
- Mấy cây đào mình trồng mới hơn ba tháng mà hy vọng lắm, không chết một gốc nào.
- Nhưng bao giờ thì có trái?
Anh Nguyễn nghiêm mặt lại :
- Thì cũng phải có thời gian chứ, cậu làm như trồng hôm nay mai đã có trái, bởi vậy mình phải xúc tiến sớm, bao giờ cậu bắt đầu?
Tôi nhìn Lam, Lam nhìn tôi, chúng tôi đều mỉm cười :
- Ít ra thì cũng phải mùa hè.
- Lâu thế...
- Anh làm như muốn thì được.
- Trời ơi, tận mùa hè lận.
- Thì Lam còn phải dạy hết niên học này, rồi tôi còn ở trong quân đội... Mà Lam xin đổi cũng khó lắm chứ đâu dễ.
- Ừ nhỉ, kẹt...
Anh Nguyễn nhìn bọn tôi và cười :
- Nhưng chắc chắn chứ?
Tôi gật đầu như quả quyết :
- Chắc chắn, bọn tôi sẽ dựng một cái lều tranh...
- Một cái lều tranh hai trái tim vàng, nghe mùi ghê.
Anh Nguyễn cười lớn, chúng tôi trở về thị trấn lúc bấy giờ chiều đã xuống, sương lam dày đặc dưới những thung lũng. Tới chợ chúng tôi chia tay nhau. Anh Nguyễn dặn :
- Tôi để cho hai vợ chồng tự do, nhưng tối mai phải lại, nhớ nghe.
Lam nói dạ, anh Nguyễn vẫy tay trước khi cho xe chạy xuống con dốc lớn. Lam nói :
- Bạn của anh vui thật, làm như mai bọn mình đã ở trên này. Anh ấy tốt quá nhỉ...
Tôi cầm lấy tay Lam và qua đường. Nền trời sẫm, dãy phố cũ bên kia lẩn vào trong bóng tối của hàng cây. Trời lạnh khô, những cơn gió mạnh thổi tờ giấy trắng là là trên mặt đường dốc. Tôi nắm chặt tay Lam :
- Mình đi ăn chưa?
- Em thấy đói rồi.
Chúng tôi bước vào nhà ăn quen thuộc. Bữa ăn đơn giản với những món ăn thích hợp cho miền lạnh: canh cải nóng, thịt đông dưa chua và một món rau xào. Tôi nhìn Lam nói :
- Lên trên này làm anh nhớ tới quê ngoài Bắc, mùa đông rét buốt, mùa xuân rét ngọt... Bao giờ hòa bình thống nhất bọn mình sẽ về ngoài đó...
Lam mỉm cười, nụ cười quen thuộc, chừng như mỗi lần tôi nhắc đến quê hương, nhắc tới Hà Nội là tôi lại thấy nụ cười đó trên môi Lam, và thường bao giờ Lam cũng nói: anh chỉ nghĩ đến quê anh, còn quê em, anh không yêu quê em phải không? Em về chơi thôi, không về ở ngoài đâu, em ở trong này một mình cũng được. Quê hương, mẹ hiền, tôi không lúc nào không tưởng nhớ đến. Một giây phút khí hậu xao động đổi thay, một đọt nắng trên ngọn cây, một món ăn, một con đường thường nhắc nhở tôi tới một thời đã xa, quê nhà, mái ngói nâu yêu dấu, mẹ hiền và một thuở thanh bình hiền dịu trong đời sống ấu thơ ngọt ngào. Đôi mắt Lam mở lớn nhìn tôi :
- Hôm nào mình khởi công làm nhà anh?
Tôi cười :
- Để còn phải coi ngày nữa chứ, và nhất là phải vẽ kiểu nhà, thôi anh giao cho em đó.
- Thế mình làm mấy tầng?
Tôi gật đầu như suy nghĩ :
- Thôi mình cất một tầng cho thân mật, nhà rộng quá ở sợ ma chết.
- Thôi mình cất nhà tranh đi.
- Cũng được.
- Nhưng bây giờ mua tranh khó và đắt tiền lắm...
- Thôi, vậy để tính sau vội gì.
Tôi nói hết câu, hai đứa cười ồ, chúng tôi thú vị với trò chơi.
Khi ra khỏi quán ăn, đèn đường đã bật sáng, những ngọn đèn quanh hồ tạo thành một vùng ánh sáng xanh biếc. Khu phố chợ vắng người. Trên đường chỉ còn lại những người đi dạo, chừng như đó là những người khách từ nhiều nơi xa tới trong dịp lễ Giáng Sinh, còn lại, những người của thị trấn đều đã rút vào trong những cánh cửa đóng kín. Chúng tôi đi xuống phía hồ. Giọng Lam êm nhẹ :
- Nhất định mình sẽ lên trên này lập nghiệp nghe anh, khí hậu ở trên này làm cho má con nít lúc nào cũng đỏ hồng.
Tôi giữ chặt tay Lam :
- Em sẽ đi dạy, anh làm vườn được không, nhưng bao giờ...
- Vậy mà xưa kia anh nói, năm nay...
Không còn bộ quân phục trên người, nhưng để có những ngày nghỉ cuối năm, tôi phải có tờ giấy phép. Tờ giấy nhắc nhở những ràng buộc khe khắt. Ra đi đúng ngày, trở về đúng ngày, chúng tôi phải thu xếp lấy cuộc sống trong những giới hạn. Giải ngũ, mấy năm trước tôi như mơ hồ nhìn thấy, giải ngủ, hòa bình đến, nhưng điều ấy vẫn chưa là sự thực. Câu chuyện về một dự định tương lai bỗng làm xuất hiện một mơ ước chưa thành. Tôi an ủi Lam :
- Chẳng lẽ đánh nhau mãi, rồi phải có hòa bình chứ, khi chúng ta có con thì chắc có hòa bình rồi.
Lam đi sát vào tôi. Ánh đèn làm sáng lên những khoảng nhỏ thiên nhiên, cảnh vật như trong một giấc mơ êm dịu. Tôi muốn nói lời chịu ơn Lam. Trở lại thị trấn trên cao, hạnh phúc ngọt ngào nhắc tôi những kỷ niệm cũ, những kỷ niệm cô quạnh trong những ngày nghỉ cuối năm ở đây, nơi tôi thường tới mỗi năm. Năm nào tôi lang thang với Dũng trên chiếc xe gắn máy cũ, hai đứa đua nhau lên Suối Vàng, đường dốc xe chết máy, ngồi nghỉ trên nghĩa trang chúng tôi đi lần theo hàng mộ bia đọc tên những người đã chết. Nơi đây Dũng đã bật khóc khi đứng trước mộ Dung, người tình cũ của Dũng, tôi nhớ tấm ảnh tươi cười của người đã khuất. Dũng nói: tôi đâu biết nàng đã chết. Dũng khóc nhắc lại những trắc trở trong cuộc tình duyên và sự mất tích của Dung trong thành phố. Dũng ngồi lặng im cho đến khi chiều xuống mới trở về và chúng tôi say trong quán rượu. Năm nào tôi ngồi với Tâm trong phòng vẽ. Ngày nào tôi với Niệm lang thang trên những đồi cỏ may hồng. Năm nào, những cơn mưa tầm tã giữ tôi lại suốt trong tuần lễ, khi lên xe trở về thì trời hửng nắng. Khí hậu lạnh, thiên nhiên tươi mát là nơi tôi chọn cho những giây phút nghỉ ngơi. Nhưng năm nay, một đổi thay chờ đợi đã đến. Lam đưa đến cho tôi những ngày mới. Nhưng mơ ước hòa bình từ bao giờ vẫn chưa đến...
Chúng tôi ghé vào nhà Thủy tạ, nhạc êm dịu ấm cúng, những cửa kính mờ hơi nước. Lam muốn ngồi ngoài trời, nhưng gió lộng và sương ẩm khiến chúng tôi phải bỏ ý định. Một ly cà phê nóng, một ly trà nóng, vắt chanh vào trong ly, mùi chanh thơm nồng, Lam nói :
- Anh định làm nhà trên này thật sao?
Tôi cười :
- Làm, nhưng chưa.
- Vậy anh phải nói với anh Nguyễn chứ, hình như anh ấy yên chí bọn mình sẽ làm nhà, sẽ lên đây ở.
- Anh Nguyễn muốn mình ở chung với gia đình anh cho vui, anh ấy cũng biết, anh mong có một ngôi nhà.
Ngụm cà phê thứ nhất, điếu thuốc mới. Anh Nguyễn, một trong vài người bạn vong niên của tôi, những người đã giúp tôi sống trong nhiều năm nay, tình bằng hữu đùm bọc cưu mang đã giúp tôi giữ được đời sống mình. Trước khi chúng tôi làm lễ cưới, anh Nguyễn trở về thăm tôi. Anh xin lỗi không thể về dự đám cưới, nhưng anh trông chúng tôi sẽ lên chơi ít ngày. Anh Nguyễn cười cười bảo: Bọn nó nói cậu giàu lắm. Tôi cười: Anh tin. Anh Nguyễn giọng nghiêm: Bọn nó nghĩ cậu đi ăn cướp đó. Trước khi về anh cho tôi tiền, anh nói: Cho bọn cậu một ít làm vốn bán bánh mì xe. Nhưng anh cũng không quên: Lên đi, có việc hay lắm, lên mới tính được. Tôi không nghĩ khi lên anh sẽ nói chuyện làm nhà. Một mái nhà, chắc không phải ước mơ của riêng tôi. Sau bao năm bỏ quê hương, tôi thấy mình thiếu hẳn nơi để trở về, tôi mơ ước một lúc nào đó lên cao nguyên khẩn hoang, làm cho mình một mái nhà vì tôi hiểu rằng: giấc mơ trở về quê hương có lẽ đời tôi không thực hiện được. Mà đến đời con tôi, khi trở về nó còn nhận được ra đâu là lối đi tôi đã bước qua, ngôi nhà nào tôi đã được sinh ra và lớn lên, cho tới khi ấy, còn không dấu vết của một thời đã xa lắc, biệt tăm trong trí nhớ những người sống sót. Khi trở về, con đường hoàn toàn vắng vẻ, ngang qua một hàng rào, tôi ngừng lại với tay bẻ cho Lam một cụm hoa tầm xuân, mùi thơm hoang dã nồng nàn. Tôi nói :
- Biết đâu mùa hè này mình lại không thể lên đây làm ngôi nhà bên cạnh nhà anh Nguyễn, sớm mai thức dậy, hòa bình đã đến...
Lam giữ chặt tay, nàng nhìn tôi, trong bóng đêm tôi thấy đôi mắt Lam long lanh sáng như một ngôi sao lạc trong nền trời tối.
Vợ chồng tôi là những người khách thứ nhất, anh chị Nguyễn chạy lên chạy xuống lo bữa ăn tối cho chúng tôi. Anh Nguyễn nói :
- Có mấy người bạn thân thôi, lâu lâu có dịp gặp nhau chứ mình đâu có theo đạo.
Anh Nguyễn rót cho tôi một ly rượu. Lam xuống bếp giúp chị Nguyễn, mấy người bạn của gia đình anh Nguyễn dần dần đến đông đủ. Chúng tôi không phải là người Thiên Chúa giáo bữa ăn đêm Giáng sinh mang một ý nghĩa khác, nhưng có lẽ cũng giống với những gia dinh Thiên Chúa giáo phần nào, bữa ăn của xum họp. Bữa ăn vui và ngon miệng. Chúng tôi nhận được những lời chúc mừng thân thiết. Lam có lúc ngượng ngùng, mặt đỏ, đôi mắt cuống quít khi chị Nguyễn mong cho tới Giáng sinh sang năm chúng tôi có cháu bé. Chúng tôi ra về sớm nhất, tôi nói :
- Bọn tôi muốn đi chơi đêm.
Anh Nguyễn cười :
- Phải rồi, bây giờ còn đi chơi được chứ ít năm nữa thì hết, như bọn tôi.
Anh Nguyễn ngừng lại, chợt anh nói :
- Quyết định về cái nhà chưa?
- Rồi, quyết định rồi.
Anh Nguyễn im lặng, vẻ mặt như chờ đợi, tôi nói :
- Anh chờ cho đến mùa hè được không, bây giờ thì chịu, hay là...
Tôi ngừng lại giây lát :
- Nhưng thôi anh ạ, để sang năm lên ở với anh chị, nhà cũng rộng mà...
Anh Nguyễn cười :
- Ừ cũng được, Giáng sinh sang năm thì mình có nhà mới rồi, lên nghe...
Chúng tôi rời nhà anh chị Nguyễn. Trên những con đường dẫn tới giáo đường chính dòng người đổ như thác, tất cả mọi người như đã mở rộng một tấm lòng chào đón, chúng tôi ở trong dòng người tới giáo đường. Bông hồng đỏ chị Nguyễn tặng Lam có lúc phải đưa lên cao, Lam sợ bị dập vì người chen chúc. Đèn sáng cả một vùng giáo đường, khoảng sân nhỏ như nêm, khi lễ giữa đêm bắt đầu, tiếng hát từ trong giáo đường như làm cho mọi tiếng động lẩn trốn, cả thiên nhiên cũng như đang chan hòa một niềm hy vọng.
Giọng Lam ở bên :
- Anh biết em cầu nguyện gì không?
Tôi nhìn Lam, khuôn mặt rực rỡ :
- Anh nghe thấy, anh nghe thấy.
Đôi mắt Lam ngước nhìn lên cao, tháp chuông với ngôi sao kết đèn sáng rỡ, trên cao đó, chỉ có ánh sáng.
Khi trở về, đứng nơi dốc vắng, nhìn lại giáo đường, chúng tôi vẫn thấy ánh sáng rực rỡ ở đó. Tôi mua cho Lam một quả bóng đỏ. Lam cột bông hồng của chị Nguyễn vào sợi dây, nàng giơ cao lên nói :
- Em muốn tặng bông hồng cho những người ở xa, những người ít may mắn...
Tôi mỉm cười, Lam thả tay ra, trái bóng lên cao rồi từ từ bay theo chiều gió mang bông hồng đỏ. Chúng tôi nhìn theo cho tới khi trái bóng và bông hồng lẩn vào trong bóng tối ở xa...

Trên đường dài - Dương Nghiễm Mậu


Trên đường dài

Nàng vừa bước lên khỏi cửa, chiếc xe đã vọt chạy, nàng kêu lên sợ hãi, hai tay giữ chặt lấy thanh sắt vịn gắn trên trần xe, tôi nhìn thấy nàng với nét mặt tươi cười nghịch ngợm. Xe bắt đầu chạy êm, nàng men theo những dãy ghế, nhìn khắp xe chỉ còn một chỗ bỏ trống ngay bên tôi, ở phía trong, chiếc ghế của một thanh niên đã xuống ở dọc đường khi xe ghé vào thị trấn phía sau. Tôi mỉm cười và đổi chỗ ngồi sát vào phía cửa xe. Khi nhìn lên tôi thấy nàng mỉm cười và đang bước lại. Nàng nói :
- Cám ơn anh.
Tôi mỉm cười không nói gì nhìn ra ngoài cánh đồng, mùa lúa vàng trải rộng với nắng rực rỡ và bầu trời xanh trong. Xe chạy mỗi lúc một nhanh hơn trên quốc lộ phẳng phiu, hai bên không có một làng xóm, thỉnh thoảng có một chuyến xe chạy ngược chiều với tiếng còi mất nhanh như một tiếng nhấn. Buổi chiều này tôi đã có mặt ở Sài gòn, tôi hình dung tới phố xá vào chiều thứ bảy sau một tháng xa Sài gòn với những ngày dài lang thang nơi những thôn xóm trong vùng châu thổ. Lòng xe không có tiếng người, một số đang thiếp ngủ với chuyến đi mệt nhọc, những người thức như đang mải nhìn cánh đồng lúa ngoài cửa xe. Thiếu nữ ho vì sặc khói thuốc, tôi nhìn lại, nàng đang mở chiếc ví lấy chiếc khăn tay trắng ra chấm lên mắt, đôi bàn tay trắng với những ngón dài với móng tay hồng ửng như những búp hoa, chiếc nhẫn cưới nhỏ làm cho tay nàng có một vẻ đẹp giản dị. Nàng bỏ khăn xuống, nhìn lên lấy một bàn tay quạt trước mặt như cố gắng đuổi những làn khói thuốc từ phía trước tạt xuống, khói thuốc lá đen làm cho tôi cũng thấy khó chịu muốn ho. Tôi nói :
- Cô có muốn đổi chỗ không?
Thiếu nữ nét mặt hơi nghiêm lại :
- Khói thuốc tôi không quen, có phiền anh không?
- Không, tôi quen với khói thuốc.
Nàng cười :
- Anh cũng là dân ghiền...
- Dạ, tôi ghiền nặng...
Tôi vừa nói vừa gật đầu. Tôi dợm người đứng lên, nàng vội vàng cầm lấy cái ví rồi đứng lên ra ngoài cho tôi ra trước khi nàng đổi vào ngồi trong ghế sát cửa xe. Nắng bắt đầu hắt vào xe khi con đường đổi chiều. Tôi nói :
- Tôi biết ngồi ngoài sắp bị nắng.
Thiếu nữ gúc đầu, mắt mở lớn :
- Anh thuộc từng khúc đường.
- Tôi là bạn của những con đường.
Thiếu nữ cười. Tôi nghe thấy tiếng cười nhỏ của nàng :
- Sao cô lại cười?
- Tôi tưởng đó là một câu thơ.
- Tôi không phải là thi sĩ.
- Vậy chắc anh có nhiều bạn đường lắm.
- Dạ...
- Như vậy chắc cũng nhiều bạn đường đời lắm.
Nói hết câu nàng ngoảnh mặt ra ngoài cửa xe, tôi mường tượng tới nét mặt tươi cười nghịch ngợm của nàng.
Tôi không nói tiếp lấy thuốc ra hút. Như ngửi thấy mùi thuốc nàng quay lại, vẻ ngạc nhiên. Nàng nói :
- Mùi diêm thơm phải không anh?
- Nó giống mùi pháo...
- Pháo, tôi không biết mùi pháo...
- Em đi pháo đỏ rượu hồng. Em đi lấy chồng...
- Anh lại làm thơ?
Tôi cười :
- Cô không biết pháo đỏ rượu hồng sao?
- Không, tôi không biết.
- Tôi không tin.
Đôi mắt nàng tình tứ im lặng. Xe chạy qua một cây cầu đang được sửa chữa. Khi xe qua khỏi cầu nàng nói :
- Anh biết pháo đỏ rượu hồng?
- Tất nhiên.
Thiếu nữ nhìn tôi rồi nhìn sang tay tôi, tôi như biết ý cố để lộ rõ hai bàn tay ra ngoài.
- Tôi biết cô muốn tìm kiếm cái gì.
- Anh biết tôi tìm gì?
Tôi đưa tay vào túi áo lấy ra một cái ví, tôi cầm lên nói :
- Nó ở trong này.
- Cái gì ở trong này?
- Cái cô tìm kiếm.
- Không, tôi chẳng kiếm gì cả.
Tôi bỏ ví vào túi và tiếp tục hút thuốc. Chuyến xe chạy nhanh trên lộ trình còn lại. Tôi cười với câu chuyện bâng quơ vừa diễn ra với người bạn đường. Những di chuyển liên tục, nhiều quãng đường quen thuộc tới nhàm chán đã khiến cho những lần di chuyển của tôi nhiều khi trở thành sốt ruột, những con đường của lần di chuyển thứ nhất, hoặc thứ hai như ngắn lại với những mới lạ chung quanh, nhưng sau đó, nó trở thành thường và nó không còn làm tôi chú ý tới. Tôi mong cho sớm, cho mau tới nơi đã định. Nhiều chuyến đi tôi ngủ liên miên trên dọc đường và có khi người phụ xe phải nhắc tôi khi tới bến. Và để cho thời gian mau hết, con đường ngắn lại, tôi thường bắt chuyện làm quen với những người cùng trên một chuyến đi, những câu chuyện dọc đường nhiều khi làm tôi ngạc nhiên, có người đã bỏ hết lộ trình để cùng đi với tôi. Nhưng tôi chưa gặp một người thiếu nữ nào có vẻ tinh nghịch như chuyến trở về này. Mái tóc dài vấn để lộ vòng cổ cao trắng ngần, dáng người thon nhỏ trong chiếc áo dài màu xanh lam, màu áo đậm đó càng khiến cho da nàng trắng thêm.
Xe đã tới chiếc cầu chạy một chiều, xe dừng lại chờ đợi, hàng quà bánh bu lại nơi những cửa xe. Tôi với người ra mua một gói mía, nàng cũng mua một gói. Tôi nghĩ hẳn nàng sợ tôi mời ăn chung. Tôi nói cho có chuyện khi thấy những trái thơm được đưa lên cao và lời mời chào :
- Thơm ở đây ngọt lắm, cô có thể mua làm quà.
- Dạ, sao anh biết rõ thế.
- Tôi đã nói rồi: tôi là bạn của những con đường mà.
- Vậy anh có bao giờ gặp bạn đồng hành như tôi không?
- Có, nhưng thường thì họ xuống ở dọc đường, không ai đi tới cuối đường như cô.
- Anh nghĩ tôi đi tới cuối đường?
- Vậy cô sẽ xuống ở dọc đường sao?
Nàng không nói, mỉm cười vẻ tinh quái.
Xe đã bỏ những người bán hàng lại, người phụ xe nhấc hành khách tắt thuốc không xả rác xuống cầu. Khi xe đổ dốc ở phía bên kia, tôi nói :
- Cô có biết cây cầu vừa qua có bao nhiêu cột sắt không?
- Không, anh biết có bao nhiêu?
- Bốn mươi hai.
- Tôi không tin anh đếm đúng.
Nàng nhìn sang tôi vẻ hoài nghi. Tôi nói :
- Không tin tôi xuống xe với cỏ, mình đi bộ qua cây cầu.
- Đi ngược lại?
- Đi ngược lại rồi đi xuôi.
- Anh không nói đùa chứ. Nhưng tôi sợ...
- Sợ tới nơi muộn.
- Không phải. Tôi sợ lính họ giữ mình lại.
- Lính sao lại giữ người qua cầu.
- Vậy mà tôi sợ, vì họ thấy mình qua cầu hoài tưởng mình sắp tự tử.
- Tự tử, ai điên gì tự tử.
- Anh cứ tưởng người ta điên mới tự tử sao? Không đâu, có lúc tôi nghĩ chính mình điên mới sống, người ta chẳng hề điên khi tự tử.
Tôi mở lớn mắt vẻ ngạc nhiên :
- Vậy cô đã...
- Anh coi xem, tôi có thể là người đã tự tử không?
Tôi lắc đầu :
- Không thể, cô có vẻ một người yêu đời, không phải là một người sầu đời.
- Anh quên tôi mới nói sao: chính yêu đời người ta mới tự tử.
- Tôi không tin thế.
- Anh là người yêu đời và chưa bao giờ tự tử?
- Đúng thế. Yêu đời khiến người ta không muốn chết. Tồi biết thường người ta tự tử vì lầm lẫn, nên ít có ai tự tử lần thứ hai. Tự tử một lần rồi thường người ta yêu sống hơn ai hết.
- Vậy thì nên tự tử một lần cho biết và để được sống yêu đời hơn?
- Nhưng không may chết thật thì sao?
- Chết thật thì thôi, ăn nhằm gì.
Giọng thiếu nữ đầy bông đùa. Tôi nghĩ hẳn nàng phải được sinh trưởng từ một khung cảnh gia đình tự do, con cái đối với cha mẹ khác với những gia đình Việt Nam khác. Câu chuyện bâng quơ mỗi lúc một khiến tôi như bị đẩy vào một sự thích thú. Tôi không nghĩ nàng đã từng tự tử. Tôi nói :
- Có thích đọc tiểu thuyết không?
- Hồi nhỏ tôi mê tiểu thuyết tình.
- Những chuyện tình ngang trái, như những lá ngọc cành vàng chẳng hạn.
Nàng cười :
- Hồi đi học tôi thương cô Loan của Nhất Linh.
- Bây giờ?
- Bây giờ tôi lớn rồi.
- Cô nghĩ chỉ khi còn nhỏ người ta mới mê tiểu thuyết?
- Lúc nhỏ, lúc còn thơ ngây người ta dễ bị lừa dối hơn.
- Tôi nói tới tiểu thuyết mà.
- Dạ, tiểu thuyết.
Tôi cười :
- Hình như cô thiền rồi.
Nàng mở lớn mắt rồi hơi cau lại :
- Thiền rồi, tôi không hiểu ý anh?
- Tôi muốn nói bây giờ cô tỉnh rồi, cô đạt rồi... nghĩa là cô không còn bị lừa dối nữa.
- Hình như người ta thích được lừa dối hơn, phải thế không?
- Tôi không biết về điều này.
Chuyến xe đang chạy men theo một con kinh lớn, những hàng dừa xanh soi bóng xuống mặt nước phẳng những cây cầu khỉ bắt qua ẻo lả, trưa nắng gần như không có người qua lại, thỉnh thoảng tôi mới thấy một chiếc ghe chạy qua với tiếng máy nổ giòn giả.
- Cô lên Sài Gòn thăm bà con.
- Vâng, nhà tôi ở dưới tỉnh.
- Thích nhỉ, chiều nay thứ bảy, tối nay cô đã có thể ngồi ở trong một phòng trà nghe nhạc, sáng mai đi dạo, ăn sáng, coi xi-nê, tuần này không biết có phim hay không?
- Anh xa Sài Gòn đã lâu?
- Hơn hai mươi ngày.
- Và anh cũng đã có hẹn.
Tôi cười, lúc sau tôi nói :
- Chắc bạn của cô ở trên đang chờ?
- Vâng, anh ấy dang chờ...
Nói hết câu, nàng mỉm cười một mình, nhìn thẳng về phía trước. Tôi nói :
- Vợ chồng sống xa nhau lâu lâu gặp lại chắc thích hơn, ở mãi một bên chán lắm.
- Tại sao lại chán?
- Vì quá quen thuộc.
- Vậy nếu anh đã có vợ, anh nên coi chừng, nếu anh chưa có vợ thì anh đừng lấy vợ.
- Cô giải thích cho tôi nghe lời khuyên của cô.
- Anh có bao giờ nghe chuyện người đàn bà đau đớn khi sinh nở không?
Tôi cười cười :
- Có, nghe nói đau lắm.
- Nhiều người chết vì sinh nở nữa.
- Phải, có hồi tôi ở gần một nhà hộ sinh và từng nghe người ta kêu gào, có người kêu cả tuần mới hết, khiếp nhỉ, trách nào có câu: đau như đau đẻ.
Thiếu nữ che miệng cười.
- Vậy mà chẳng có ai chỉ sinh một lần, người ta tiếp tục sinh, sinh năm một, sinh hàng mười đứa con, trong khi đó vừa kêu đẻ đau, vừa kêu khổ vì nhiều con cái...
Tôi không nhịn được, bật cười lớn và tôi thấy nhiều người trong xe quay lại nhìn tôi. Tôi đổi hướng câu chuyện :
- Chắc lần này cô lên ở luôn trên Sài Gòn?
- Không, tôi lên độ tuần lễ rồi về. Chồng tôi dạy học ở trên đó.
- Để cho ông ấy một mình cô không sợ có người bắt cóc sao?
Thiếu nữ cười :
- Giữ ngay bên mình mà người chồng lang chạ thì cũng chịu. Anh có thấy vậy không?
Tôi gật đầu. Nắng buổi chiều đang xuống dần, vì thế nắng càng hắt nhiều vào trong xe, thiếu nữ phải kéo cửa lên cho khỏi nắng. Chuyến xe bỗng chậm lại rồi đứng, tôi nhìn về phía trước: có nhiều xe đang nối đuôi nhau, hành khách túa xuống đường, người tài xế hỏi những người bạn cùng nghề, câu chuyện cho biết phía trước không xa có giao tranh gần quốc lộ khiến cho xe cộ không thể chạy được, nhiều người trên xe nóng ruột bàn tán, thiếu nữ im nghe mặt không lộ vẻ gì, tôi nói :
- Cô có lo không, chắc ông ấy ở Sài Gòn đang nóng ruột.
- Còn anh?
- Tôi, tôi quen rồi, nhiều khi tôi kẹt lại hàng tuần lễ vì những chuyện như thế này.
Thiếu nữ không trả lời vào câu hỏi, nàng thường có một cách thức riêng để thoát ra khỏi những câu chuyện, sự lẩn tránh làm cho nàng thêm linh động và bí ẩn. Tôi lấy ví tìm chiếc ngoáy tai nhưng không thấy, nhìn thấy cái nhẫn nhỏ, tôi cầm ra lồng vào ngón tay. Thiếu nữ nhìn vẻ thản nhiên. Tôi nói :
- Tôi sợ cô hiểu lầm.
- Hiểu lầm, tôi không hiểu ý anh.
- Tôi chỉ còn có một cái duy nhất.
- Anh có nhiều cái cất trong ví.
Tôi mở rộng ví, đưa về phía nàng :
- Thật tình tôi chỉ còn có một cái.
- Nhưng trước kia?
- Phải, trước kia tôi có nhiều.
- Để làm gì?
- Để tặng.
Cô gái nghiêm nét mặt. Nàng không nói tiếp mở cửa xe ngó xuống đường. Ngồi trong khi xe không chạy khiến tôi cũng khó chịu, tôi đứng lên xuống khỏi xe. Lúc sau tôi thấy thiếu nữ cũng xuống và đi thơ thẩn ven bờ ruộng vẻ thư thái.
Tôi dời mép ruộng ngắt lên một bông lúa non, mùi lúa thơm tươi dịu dàng, cánh đồng rộng mút mát, chỉ ở miền Nam này mới có thể có ruộng cò bay thẳng cánh. Thiếu nữ đến nơi, tôi nói :
- Ruộng đất của ai sao nhiều quá, hẳn phải giàu ghê lắm...
- Giàu, con gái nhà giàu cực lắm anh. Cha tôi cũng có nhiều ruộng như thế này.
- Tôi chỉ thấy nghèo là cực.
Thiếu nữ cúi xuống nhặt một viên đá ném vào ruộng lúa, một con chim nhỏ từ dưới bay vụt lên. Nàng nhìn theo với nụ cười.
- Hồi bấy giờ nhiều người theo tôi, nhiều người cậy mai mối tới xin cưới tôi... tôi thấy rõ họ tới vì nhà tôi giàu, và tôi kinh sợ... Người ta yêu ruộng, yêu tiền của...
Thiếu nữ ngừng lại, mặt như tối đi, đây là giây phút thứ nhất tôi nhận thấy một thoáng buồn trên mặt nàng. Hình như nàng thở dài sau câu nói. Đoàn xe vẫn nằm im tắt máy, nhiều người buồn chán ngồi xuống ven đường, có xe đã sang khách và quay đầu trở lại, nắng mỗi lúc một dịu xuống cùng với gió lộng trên cánh đồng, những ngọn lúa vàng từng lúc cúi rạp theo chiều gió với tiếng reo vui. Tôi thấy không thể chờ đợi tiếp, sau khi hỏi người tài xế, tôi lấy hành lý sang xe quay trở lại.
Thiếu nữ nói :
- Anh quay lại.
- Tôi không chờ được, tôi về thị trấn gần nhất nghỉ qua đêm chờ mai sớm cho khỏe, đằng nào cũng kẹt rồi.
- Anh cho tôi đi theo với.
Tôi ngạc nhiên, thấy tôi có vẻ ngần ngại, thiếu nữ nói :
- Có phiền cho anh không?
- Không, nếu cô thích.
Chúng tôi trở lại thị trấn nhỏ ở phía sau đó, khách sạn hết phòng khiến chúng tôi phải ở chung một phòng ngó xuống con sông rộng nước đục và nhiều ghe thuyền. Sau khi rửa mặt, thay quần áo chúng tôi khóa cửa phòng xuống thăm thị trấn nhỏ trước khi vào một quán ăn.
Trong lúc ăn, thiếu nữ nói :
- Chắc người ta tưởng tôi với anh là vợ chồng.
Tôi không nói im lặng ăn. Quán vắng nằm trên bờ sông, một phần được làm hẳn ra ngoài mặt nước, ghe thuyền qua lại không ngừng, dòng nước đục luôn luôn cuộn sóng. Thiếu nữ nhìn ra mặt sông với vẻ ưu tư :
- Chắc cô nghĩ tới quê nhà?
Nàng quay lại mỉm cười :
- Tôi nhớ lại lần tôi đã nhảy xuống dòng nước giống như thế.
Tôi ngạc nhiên :
- Cô đã tự tử?
Nàng gật đầu :
- Nhưng tôi biết tôi không thể chết, tôi phải có thái độ quyết liệt như vậy để lấy được người mình yêu.
- Cô đã thành công?
- Tất nhiên. Ngày cưới, cha tôi gọi tôi vào phòng riêng nói: con đã quyết định theo ý con, con không nghe theo ba, con hãy nhớ: sướng hay khổ con phải chịu lấy, con đừng trách ba đã không lo cho con. Tôi đã ôm lấy ba tôi mà khóc vì ba đã chiều theo tôi, tôi cũng nhủ thầm tôi sẽ có được hạnh phúc như tôi mong ước. Người yêu của tôi, tôi thấy là một người lý tưởng, một người mà tôi thầm ước. Tôi hài lòng...
Giọng thiếu nữ say mê như sống lại những ngày tháng cũ trong đời mình. Tôi nói :
- Yêu nhau, lấy nhau, tôi thấy người ta thường có hạnh phúc.
Thiếu nữ không nói tiếp ngó ra dòng sông, lúc sau nàng quay lại hỏi :
- Anh có biết trường V.H. không?
- Có, tôi cũng có mấy người bạn ở đó. Người yêu của cô dạy ở đó sao?
Nàng gật đầu :
- Tôi có đến trường một lần và đọc thấy hàng chữ: Lương Sư Hưng Quốc... Làm một người tốt, làm một người hữu dụng, ai cũng muốn thế, chắc anh cũng muốn thành một người tốt, một người chồng lý tưởng một công dân... phải thế không? Anh cũng từng nói với người yêu của anh như thế, nào là lý tưởng, nào là... Chồng của tôi cũng thế. Anh ấy nói đủ hết, và ngay trong đêm tân hôn anh ta hỏi tôi: ba má cho mình bao nhiêu tiền, mua xe hơi cho mình chưa, mình được bao nhiêu ruộng.
Thiếu nữ ngừng lại uống một miếng nước rồi nói tiếp :
- Lấy chồng, tôi đã tự quyết định, vì thế tôi đã từ khước mọi thứ mả ba má tôi cho, tôi nghĩ tiền bạc không cần cho tình yêu. Tôi nói lại với anh ấy. Anh ấy ngạc nhiên, có vẻ không tin và lập tức đi lục lọi hết tất cả, bới tung hết các va-li. Nào có gì đâu, tôi chỉ mang theo những quần áo thường có. Anh ta kêu lên, điên thật, như thế lấy tiền đâu chơi bài, lấy tiền đâu chơi cá ngựa... Anh hiểu chứ.
Thiếu nữ nhìn tôi, đôi mắt như hơi đỏ lên. Tôi lặng đi.
Sau bữa ăn thiếu nữ ra đứng ngoài lan can nhìn xuống dòng nước. Tôi đứng bên nói :
- Cô không có ý định tự tử chứ?
- Tôi đã nói với anh, yêu đời người ta mới tự tử được.
- Vậy cô còn lên Sài gòn làm gì?
- Tôi mang tiền bạc lên.
Tôi ngạc nhiên :
- Cô nghĩ tiền bạc sẽ mang lại hạnh phúc cho cô.
- Tôi đã về xin tiền ba má tôi, không phải thế, tôi cần tiền để nhờ luật sư xin ly dị...
Thiếu nữ mân mê cái nhẫn cưới nơi ngón tay, tôi mỉm cười :
- Cô vẫn còn thích cái nhẫn?
Tôi tháo chiếc nhẫn ra khỏi tay cất vào trong ví. Thiếu nữ hỏi :
- Sao vậy?
- Như vậy cho được yên tâm.

Thiết lộ - Dương Nghiễm Mậu


Thiết lộ

Ông Tám rót thêm cho mình một lt đế nữa, tiếng nút cọ vào miệng chai thủy tinh thoát ra một âm thanh khô, khít. Chai đế đã vơi hơn nửa. Ông Tám nhủ thầm: sao hôm nay lão Tư không đến nhậu với mình, lão đã chán đến hay lại bệnh bất tử rồi... hay lão đã kiếm được đường đi khỏi như lão dự định, đi đâu, làm gì, mình già rồi, còn việc nào khác là việc bẻ ghi nữa, sức mình còn kham chi được nhiều... Ông Tám lẩm bẩm với mình, hôm nay không còn người bạn già để cùng nhau tâm sự, nói đi nói lại những câu chuyện đã nói không biết bao nhiêu lần, những câu chuyện thường bắt đầu: Lúc trước, khi xưa, hồi còn, ngày tôi mới lấy nhà tôi, tết năm...
Những vạt nắng cuối cùng leo lên những ngọn cây cao su phía trước, mấy tàu lá chuối óng ả vươn lên cao, sân ga trong buổi chiều hôm nay trông như hẹp hẳn đi, thùng chứa nước cũng như thấp xuống, chiếc thùng sơn đen như mốc, đã lâu rồi nó không còn được sơn sửa, nước mưa tràn đầy chảy xuống rì rả từ đầu mùa tới nay đã khiến cho một phía góc có chỗ hở nước chảy xuống tạo thành một vệt han gỉ, nhưng nay còn ai kiểm soát nữa đâu mà lo. Bốn con đường sắt song song với nhau ông Tám chỉ còn nhận ra một con thì cỏ cao bao phủ, phía ngoài những cây con đã mọc, chính những cây con và cỏ đã khiến ông tưởng như sân ga hẹp lại rất nhiều ông không còn nhận ra hàng rào thép gai phía trước, hàng rào mà những thời gian trước ông đã phải luôn luôn để ý đến nó vì từ phía đó những kẻ đi tàu lậu vẫn vượt qua, có một chỗ mà ông không sao ngăn ngừa được đã khiến cho trên khoảng sân ga có một con đường mòn, con đường những bà già, trẻ con thường vượt qua để vào bán quà bánh, trái cây nước trà, những khi có tàu đến ngừng lại trong chốc lát, bây giờ không còn ai vượt qua con đường ấy, không còn những đứa trẻ nhanh như chuột trốn chạy ông, không còn tiếng năn nỉ của những đứa nhỏ chậm chân khiến ông giữ lại của nó một ấm nước, một mẹt bánh, mẹt mía... ông Tám lơ đãng nhìn ra khoảng sân nhớ tới những con tàu đen nằm lại trong sân ga, tiếng máy ì ạch nặng nhọc, hơi nước và khói than nồng nàn, tiếng gọi nhau, tiếng rao hàng, tiếng gõ khô khan của những người kiểm soát con tàu soi đèn vào những chiếc vít, chỗ nối toa sau một đoạn đường dài con tàu đã chuyển động.. Bây giờ chỉ còn lại đó một sân ga cao cỏ và sự có mặt lếch thếch của gia đình kia. Lúc trước cảnh những gia đình đến ga này không ít, nhưng phần nhiều là những kẻ làm ăn thất bát, những người thất nghiệp đến đây làm phu đồn điều cao su, họ đến nhiều nhưng đi khỏi chẳng bao nhiêu, những lần thấy có người đi khỏi ông mừng cho họ, đất này độc, người ta đến và ở lại để chết vì bệnh tật, đời sống phu phen chẳng bao giờ tạo nổi cho họ một tương lai khá hơn. Gia đình này chắc cũng như vô vàn những gia đình khác. Họ có đi được không, ông mong họ may mắn. Thầy Ký vào nơi phòng nhỏ, chỗ có mắt cáo để bán vé, thầy lục lọi cái này cái khác, lấy chổi phất trần quét chỗ làm việc. Lúc sau ông xếp cũng đến, rồi mấy người lao công... thêm vào ông Tư, đó là tất cả nhân viên trong nhà ga này. Đã mấy tháng rồi họ đã đến đây không đều đặn, hôm đến hôm không, nhưng hôm nay họ đến đủ mặt và chừng như cố tạo lại sự bình thường, sự bình thường mà mỗi ngày trước đây họ phải làm. Thầy Ký ngồi vào chỗ bán vé, mở khóa ngăn kéo, lau kệ, rồi lấy thuốc ra châm hút. Ông Tám uể oải đưa chổi quét lần xi-măng trong khoảng phòng đợi, lối ra sân ga. Hai người lao công, anh Thịnh đứng lên chiếc cân như thử lại sự chính xác của nó, anh chăm chú nhìn chiếc cán cân thăng bằng sau khi điều chỉnh rồi kêu lên vẻ vui thích: Tôi lên được nửa ký. Anh Lạc leo lên chiếc thang lên dây chiếc đồng hồ nhin xuống nói: Mấy giờ rồi ta. Trong khi đó ông Xếp lau chiếc điện thoại trên bàn, xé những tờ lịch trên tường rồi ông ngồi thừ xuống ghế không biết làm gì tiếp...
Ông Tám già tợp thêm một ngụm đế. May mà còn đế nhậu nếu không thì buồn chết, ông nhớ tới thằng con, đứa cháu đích tôn mới được một tuổi, không hiểu hồi này bọn nhỏ ra sao, đến nửa năm rồi còn gì hồi ông xuống Mỹ Tho chơi với chúng được hai ngày, thế rồi thôi, chẳng được một lá thư của nó nữa, nếu có tàu ông đi Sài Gòn rồi xuống Mỹ Tho ông không mất một đồng bạc, bây giờ thì phải đi xe đò rồi, nhưng có đáng là bao nhiêu đâu, bình thường bây giờ chẳng ở đâu là xa hết, xe cộ dễ dàng và ngon lành nữa. Cái gia đình hồi sáng bây giờ ra sao, mong họ đã đến một nơi nào rồi trên đường tới Sài Gòn, ông thử tưởng tượng tới những trạm mà chuyến xe chạy qua nhưng ông không sao nghĩ được, đã rất lâu rồi có bao giờ ông đi trên con đường ấy đâu. Những đàn muỗi rừng, thứ muỗi cỏ cánh dài đã trở lại bay vòng vòng trên những ngọn cỏ, những cơn gió nhẹ thổi qua lay động những ngọn cây cao, vẻ lay động lặng lẽ cô tịch. Ông Tám nhấp một ngụm đế, cầm lấy miếng khế chua cắn một chút, cỏ và rêu đã mọc vào đến hiên ga, mai phải làm việc một chút mới được, để mãi trông nó hoang liêu quá, mà biết đâu chiều nay bỗng nhiên tàu chạy trở lại, nhìn thấy sân ga như thế này chắc các xếp không hài lòng? Ông Tám như nhủ thầm với mình, ừ biết đâu mai lại không có tàu chạy đến. Sáng hôm nay tất cả những nhân viên đều đã đến, ông cũng đã mở cửa nhả ga như mọi ngày, cầm cái chổi quét những rác rưởi, khi quét ông mới nhận ra rằng trong nhà đợi đã có một gia đình cư ngụ tại đó. Hai chiếc chiếu rách, một người đàn ông vàng vọt khô khẳng, một người đàn bà và hai dứa trẻ con. Ê nhà ga chứ đâu phải nhà tế bần các bồ. Người đàn ông khoác chiếc khố tải nói mãi mới ra tiếng: chúng tôi chờ tàu đi Sài Gòn chữa bệnh. Đi Sài Gòn, nghe thấy điều đó ông Tám bùi ngùi, ông lắc đầu: có tàu đâu mà đi Sài Gòn, không biết sao? Đôi mắt lo âu của người đàn bà: thưa bác không có tàu? Không có từ lâu rồi mà, không biết sao? Dạ chúng cháu ở trong đồn điền không biết. Ông Tám đưa mắt nhìn họ, chắc là họ ở trong đồn điền phía trong không biết những điều xảy ra ngoài này. Thôi kiếm xe đò mà đi, tàu thì đến bao giờ... Ông muốn nói cho họ biết việc đi ra khỏi đây không còn như những ngày trước nữa, ông Tám uể oải đưa chổi quét cho tới lúc sau ông thấy họ thu xếp đi. Ông hỏi đi đâu, người đàn bà bế đứa con trên tay: chồng con bệnh nặng phải về nhà thương ngay, chúng cháu ra ngoài lộ đón xe. Bây giờ họ đã lên được chiếc xe nào chưa, những xe dò họa hoằn mới chạy qua một lần, hay bây giờ họ còn đứng đợi ngoài quốc lộ. Ông Tám không muốn nghĩ tới nữa. Ông đã nhìn theo họ thương hại, sao ông lại không nói hết cho họ hay, sao không nói để trở lại nơi làm việc của họ, sao không nói họ ở lại, biết đâu mai này có tàu, những biết đâu mà ông đã nghĩ đến không biết bao nhiêu lần... Lúc nãy thầy Ký bán vé tàu đến, hai người bắt tay nhau, ông Tám đã nói: Đáng lẽ sáng nay ông có việc rồi đó. Thầy Ký nhìn ông: Việc gì? À một gia đình định mua vé đi Sài-gòn? Cả hai người phá lên cười, thầy Ký hỏi: Họ đâu rồi? Tôi nói không có tàu nên họ ra ngoài đón xe đò. Ông Tám nói xong định cười nhưng ông không cười được khi nhớ lại cảnh gia đình người phu lếch thếch lo âu kéo nhau đi ra quốc lộ với hy vọng tìm được xe trở về Sài Gòn. Sài Gòn, với cái tên gọi đó bỗng trở thành xa lạ với ông, nó không còn là một nơi gần gũi mà nếu ông muốn ông có thể đến đó một cách dễ dàng như trước. Mong cho họ đã đến được Sài Gòn, nhưng ngay sau đó ông không tin điều ông mong ước đã trở thành sự thật với gia đình người lạ mặt kia.
Mỗi lúc ông Tám một thấy chất rượu như ngọt thêm nơi đầu lưỡi, đầu óc mỗi lúc như thấy một mờ tối đi cùng cảnh vật ngoài trời. Không say thì còn biết làm gì nữa, không biết vợ chồng thằng Hai ra sao, đứa cháu nhỏ nữa, sao ông thấy nhớ chúng quá, có cách nào cho chúng có thể tới đây hay ông có thể tới ngay bên chúng nó lúc này, nếu được vậy ông sẽ bắt thằng hai đi kiếm thêm vài xị nữa, làm một con gà xé phay ra rồi cha con cùng nhậu, nó cũng là một thằng nhậu được lắm, nó có những thằng bạn trong lính cũng là sâu rượu chứ ít gì, ông vẫn thường nói với nó: con trai phải biết nhậu nhưng không được bê bối, nhậu cho vui, cho khuây khỏa chứ không được mượn rượu mà làm chuyện bậy bạ, không thể nói say mà làm thế này thế khác, không thể mượn rượu mà chửi bố người ta, say nhưng sao không chửi bố mình mà lại cứ nhè bố mẹ người ta mà chửi. Như thế là bá láp, tầm bậy, đó là điều ông Tám không tha thứ cho ai được. Nhậu nhẹt, tán dóc, cười vui rồi ngủ, đó là điều ông vẫn nói với thằng con của mình không được mượn rượu mà la mèo mắng chó làm khổ vợ con. Những ngày ở với ông xem ra thằng Hai cũng biết điều lắm, chúng nhậu mà không bao giờ làm ông phiền lòng, lúc làm việc thì làm việc, khi chơi thì cho ra chơi, đó là điều khiến ông yên tâm và hài lòng về nó, không hiểu hồi này nó ra làm sao, ông không được biết một tin gì của nó cả. Ông Tám thấy má mình ướt không biết có phải mình đã khóc không.
Ông Tám ngồi im lắng nghe những tiếng động chung quanh. Tiếng một con chim rừng nào đó lẻ loi ngoài rừng cây. Chòi nước sơn màu hắc ín những dây leo bám quanh. Đoạn đường sắt cụt dành cho những đầu máy vào lấy nước đã um tùm những cây cao hơn đầu người. Những vạt nắng cuối cùng leo trên những ngọn cây xanh tối mù đục hơi sương. Ông Tám lấy từ trong túi ra gói thuốc rê bọc trong lần lá chuối đã vàng héo. May mà ở đây người ta còn trồng được thuốc, nấu được rượu, nếu không thì ông cũng đến tìm cách mà rời khỏi dù bằng cách nào đi nữa. Nhưng dù vậy những điếu thuốc đã không còn được ngon như trước, vì thứ giấy cuốn đã không còn là thứ giấy mỏng mà ông đã phải dùng tới những tờ giấy dầy, nhiều khi là những tờ giấy xé ra từ một cuốn vở viết, mùi giấy hôi át đi mùi thuốc thơm dịu. Ông Tám ngạc nhiên nhìn ra, ông cố gắng vận dụng mắt để nhìn xem ai đang đi lại phía ông, à lão Tư, tưởng là hôm nay lão không đến, phải rồi lão phải đến chứ, còn ai nữa đâu trong cái nhà ga khốn kiếp này. Qua khói thuốc ông Tám nhận thấy ông Tư đã đứng lờ mờ trước mặt :
- Sao bồ, tưởng bồ không đến, tôi nhậu một mình chán quá. Làm mấy ngụm chơi.
- Không đến sao được, nhưng kẹt...
- Kẹt gì vậy, bà xã làm khó hả?
Ông Tư cười lớn vẻ khoái trá, ông ngồi xuống bên cầm lấy chiếc ly không của ông Tám rót phần ba ly đưa lên môi tợp một ngụm, ông tép tép môi lấy một miếng khế nhấm nhấm.
- Kẹt quá ông ơi, thằng con tôi nó tính bỏ đi khỏi đây, nó kêu chịu không thấu nữa. Tôi cố bảo nó ráng chịu đựng ít lâu, chẳng lẽ mãi như thế này được sao nhưng nói gì nó cũng không chịu, nó tính đi khiến cho bà vợ tôi khóc tùm lum hết, bà sợ khi bà chết không có nó ở bên, thật thời buổi kỳ quá, bỗng nhiên mình như bị đày...
Ông Tám thở dài như thông cảm với tình cảnh người bạn già.
- Nhưng làm cách nào mà nó đi được, ngó bộ nó muốn chết sao, chẳng gì bây giờ nó cũng lớn rồi, nó mà leo xe đò là thế nào cũng bị bắt đi, đi mà không biết tung tích gì cả.
- Mình nói với nhau thì dễ chứ với bọn nó thì ông ơi, ông biết đó... cái hồi thằng con ông lấy vợ ông có nói được nó không...
- Chuyện lấy vợ khác, chuyện này can hệ cho mạng sống nó chớ.
- Vậy rồi, nhưng mình nói mà bọn chúng không nghe thì biết làm sao đây, thật rầu thúi ruột...
Ông Tư rót thêm một ly nữa và uống cạn, ông Tám lặng thinh. Bọn trẻ thật là khó chịu, giá hồi đó nó không cưới vợ thì ngày nay đã được sống với nó, nhất là ông muốn cưới cho nó một con vợ ở ngay đây, như vậy thì bố con đâu phải xa nhau, nhưng nó đi đây đi đó, rồi nó thương nhau biết làm sao mà ngăn cản. Cái hồi đó ông đã buồn nhưng thấy con vợ nó cũng khá nên ông cũng bằng lòng vậy, nếu không có lộn xộn thì cũng không đến nỗi nào, lâu lâu ông xuống thăm chị sui, anh chị ấy cũng chẳng có con cái nào khác ngoài vợ thằng Hai nên chúng nó cũng được nhờ, nhất là đứa cháu trai, có người bảo ông không sợ mất con mất cháu sao, ông nghĩ mất sao được gì thì nó cũng vẫn là con mình, mà mình nuôi có chắc gì nó đã sướng như người ta nuôi nó. Xa nó ông buồn nhưng trông thấy nó không phải khổ là ông vui lòng rồi.
Hai lão già ngồi im nhìn ra khoảng sân ga vắng lặng, thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lướt qua lay động những ngọn cỏ cao úa vàng, xưa kia trên khoảng sân đó vào những buổi chiều như thế này khi những chuyến tàu sắp ngang qua sân ga ồn ào náo nhiệt với những hành khách, những người bán quà bánh, những đứa trẻ bán nước, bán những khẩu mía cắm lên đầu những cái tăm túa ra từ một thanh tre nhỏ, cùng đó mùi khói than nồng nực và những tiếng động kéo níu, tất cả chừng như đã dời khỏi sinh hoạt phân tán đi mọi nơi, những đầu máy, toa xe chỉ còn chạy trên những quãng đường ngắn, nằm trong những nhà ga không còn sinh hoạt, ông Tám nói :
- Ông có nghe chuyện ông thanh tra cùng phái đoàn đi coi đường sắt không?
- Không.
- Tôi nghe họ nói lại kỳ lắm, phía đường ngoài muốn tái thiết cũng còn lâu. Đoàn quan sát ngồi trên trực thăng suốt từ Sài Gòn ra tới ngoài, dọc theo đường sắt cho thấy nhiều quãng đường đã bị phá hoàn toàn, nhiều cây cầu đã bị sập, có nhiều đoạn đã trở thành những ruộng ngô, ruộng sắn.
- Nghĩa là đường sắt, tà-vẹc bị mang đi luôn?
- Hẳn là vậy.
- Kỳ nhỉ, vậy rồi làm sao?
- Thì làm lại.
- Thật là nhảm, làm cho được đâu phải dễ gì, mất bao công sức, thật tôi không hiểu được.
- Mình nghĩ vậy và cho là đúng, nhưng người ta không nghĩ vậy. Kể cái hồi đầu tiên người ta làm con đường này cũng kinh, chắc là khối người chết. Này hồi trước ông đã có dịp đi một chuyến nào suốt cho tới ngoài Bắc không?
- Chưa bao giờ, cũng có lúc tôi nghĩ tới một lần đi như thế, nhưng chưa, và chắc không còn dịp để làm nữa, sợ tới lúc mình chết vẫn còn loạn, ông ngó coi từ hồi nào đến giờ có bao giờ yên đâu, hết thế này lại thế khác, có người nói có khi mình chết hết, chết mà trả cái nợ đã diệt người Chàm của tổ tiên mình...
Giọng nói khề khà chếnh choáng, hai ông già vừa uống vừa nói những chuyện này khác, không liên lạc gì với nhau. Trời đã tối hẳn, ông Tám nhìn về phía nhà mình, một ngọn đèn cháy leo lét bập bùng nơi giữa nhà thấp thoáng trong đó bóng vợ ông đi lại. Ông Tám hình dung ra con đường xe lửa ông đã từng ngang qua, bây giờ bỗng nhiên có những nơi không còn dấu vết gì nữa, những ruộng ngô, những rẫy sắn, những căn nhà được dựng lên, không còn một con đường, không còn những liên lạc ngang qua... Đó là điều không thể nghĩ ra được. Như vậy rồi đây làm sao để người có thể đi từ nơi này tới nơi khác. Có người nói với ông không phải chỉ những con đường sắt, mà những con đường khác cũng đã không còn là những con đường mà có khi nó đã trở thành một con sông, con lạch, những cái hồ... Biết đâu, tới một lúc nào đó nhà ga này cũng không còn là một nhà ga, và ông sẽ phải đổi sang làm một công việc khác, ông có thể làm được việc gì. Ông Tám nói :
- Này, ví dụ rồi không bao giờ có xe lửa, rồi ngành hỏa xa giải tán thì ông làm gì?
- Làm gì mà không được, chết chóc gì mà ông phải lo, đến lúc đó hãy hay.
Ông Tư vừa nói vừa cười với người bạn già. Nụ cười thanh thoát tưởng như của một người đã hoàn toàn hài lòng với đời sống, ông đứng lên nhìn người bạn già trong bóng tối nhờ nhờ của buổi tối :
- Thôi tôi về nghe, làm mấy ngụm rồi về ngủ một giấc, thế là được rồi. Để mai tôi nói làm một con gà nhậu chơi...
Ông Tư bước đi chếnh choáng, chợt ông ngừng lại nhìn chăm chú ra ngoài cửa nhà ga, phía ngoài hàng cửa sắt. Ai đi ngoài đó trong đêm. Ông Tám thấy ông Tư đứng lại với dáng điệu chăm chú vội hỏi :
- Gì đó ông Tư?
Ông Tư vẫn đửng im, một tay ra dấu cho ông Tám im lặng. Ông Tám vội đứng lên đi lại phía người bạn già. Ông đã nhận ra gia đình người phu buổi sáng tới chờ tàu đi Sài Gòn.
- Vậy mà tưởng gì.
- Tôi tưởng đâu...
- Mấy người buổi sáng tôi đã nói với ông đó, họ không đón được xe về dưới.
Người đàn ông khăn trùm kín đầu, bước đi không vững tựa tay lên vai người vợ đang bước lên khỏi những bậc gạch nơi cửa nhà ga, đứa nhỏ theo sau. Trong bóng tối đám người như những bóng ma hiện hình chập chờn trở lại một cõi nào. Ông Tám buột miệng :
- Tội nghiệp...
Ông Tám đi lại gần nơi cửa :
- Không kiếm được xe sao?
Giọng người đàn bà mếu máo :
- Chúng cháu chờ suốt từ sáng tới giờ mà không có chuyến xe nào... cụ cho chúng cháu ngủ lại đây mai chờ xe...
Người đàn ông ngồi nơi nền xi-măng đưa bàn tay run rẩy lên cố vạch mép khăn nơi mặt nhìn lên, chừng như người đó nói gì nhưng không ai nghe thấy. Đứa nhỏ trên tay người vợ khóc, tiếng khóc nghe mềm nhệu như tiếng con mèo bệnh. Ông Tám lần trong thắt lưng kiếm chùm chìa khóa, ông lần chuỗi dây xích, tiếng sắt kêu khô khan, ông mở khóa, kéo cánh cửa rồi nói :
- Thôi vào trong này mà ngủ, ở ngoài ấy gió lắm. Bây giờ không có tàu, xe cũng khó lắm, khó mà về dưới đó được, tôi đã bảo mà, khó đi khỏi đây lắm, nếu đi được thì tôi đã đi thăm thằng con tôi, hóa các người sống ở trỏng không biết gì sao?
- Dạ không, chúng cháu tưởng cũng như ngày xưa...
Người đàn ông được vợ đỡ cho đứng dậy, anh ta vịn một tay vào tường, chân lết đi, đứa nhỏ theo sau kéo một cái túi vải nhỏ. Ông Tư lặng lẽ bỏ đi. Người đàn bà trải chiếc chiếu rách vào sát tường phía trong cho người chồng ngồi xuống, chị cũng ngồi xuống bên, chị mở ra một gói cơm đưa cho đứa nhỏ trong khi nựng đứa bé trong lòng. Tiếng ru của người mẹ nghẹn ngào như muốn khóc, ông Tám ra đứng cửa. Ông nghe thấy tiếng súng vọng từ xa, tiếng nổ vang lên trong không khí tịch mịch...
1966

Nụ cười - Dương Nghiễm Mậu


Nụ cười

1.
Người vợ bỏ căn nhà không ra đứng ngoài hiên, buổi sáng trời gây lạnh nhạt nhẽo, không khí chậm chạp với sinh hoạt của con đường nhỏ đưa tới một con sông hẹp có thể nhìn thấy dãy nhà mé bên kia. Mấy người đi lại, một người lớn tuổi đạp chiếc xe đạp cũ ngang qua, một người tài xế hí hoáy với chiếc xe lam cũ. Bà hàng xóm bưng thùng rác từ trong nhà ra, vượt qua đường, đổ xuống lề mé bên kia, nơi đó, ngoài tường của một ngôi nhà lớn. Người đàn bà lắc thùng rác, đập nó xuống, tiếng chiếc thùng thiếc kêu vang trong không khí lạnh nhạt. Bà hàng xóm trở về, để chiếc thùng rác xuống hiên. Người vợ nói: bệnh ông nhà cháu khó qua được tuần này, nghe thấy khác trong người hay sao đó mà tối qua ông ấy trối trăng hết cả mọi điều rồi. Bà hàng xóm nói: thế ông nhà còn tỉnh không - Dạ vẫn như thường, tỉnh táo lắm, nhưng coi như hết máu rồi, bà tính, ngồi chờ bệnh đã ba năm, bệnh ung thư không thể chữa được, bác sĩ báo ngay cho biêt như vậy, và từ ba năm nay ông chờ chết... Bà hàng xóm nhìn ra con đường và nghe nói với nét mặt bình thản. Bà chợt quay lại cầm lấy chiếc thùng: lâu quá rồi, bệnh gì kỳ cục hôm tôi cũng có nghe ông nhà nói, hồi bấy giờ ông nhà vẫn như thường nhỉ, ai nghĩ ông bệnh. - Vâng chỉ mới tháng nay ông nhà tôi mới nằm một chỗ vậy thôi, ấy ở nhà vậy chứ ông đâu chịu nằm một chỗ, ông nằm thì không chịu được, làm cái này cái khác, nhưng thật ra, chính nhờ ông bệnh mà ông mới có mặt ở gia đình, hồi xưa tôi chỉ biết khóc, ông ấy nay đây mai đó có mấy khi ở nhà, hồi thằng con trai thứ hai phải tới năm tuổi bố nó mới nhìn được mặt, thật hồi nhỏ tôi chẳng được biết gì về đời sống gia đình, nhà có đàn ông mà như ở góa... bà nghĩ coi. Bà hàng xóm tép miệng, nói: cả xóm mình ai cũng lạ về ông nhà, lớn tuổi mà vẫn trẻ trung, vui vẻ, ai cũng thương quý, người như thế thật hiếm... Một chiếc xe chạy qua. Người vợ lặng im. Bà hàng xóm quay mặt lại: hôm nay bà không đi chợ sao. - Tôi muốn ở nhà sợ ông nhà tôi có thế nào. Bà hàng xóm xách thùng rác đi vào nhà, người vợ đứng im nhìn bâng quơ hai dãy nhà và con đường đá gồ ghề. Người vợ đi trở vào. Tiếng guốc khua động chốc lát trong gian nhà tối.
2.
Khu xóm nằm ở ngoại ô thị trấn, khi thị trấn phát triển khu xóm trở thành một vùng đất mới, dân cư mỗi lúc một đông và trở thành phồn thịnh, con đường ngày xưa vắng vẻ bỗng trở thành chật hẹp lại. Biến cố lớn đến với khu xóm khi biết con đường sẽ được mở rộng. Con đường sẽ nối với khu nhà bên kia dòng sông. Những ngày đầu tiên khi thấy những nhân viên kiều lộ tới đo, ngắm, vẽ bản đồ thì người dân trong xóm bắt đầu lo âu về những căn nhà bị cắt để làm đường. Nhưng thời gian chờ đợi vẫn kéo dài, có người không tin đó là sự thật, họ nghĩ đó chỉ là một dự án. Một vài người khôn ngoan, nhà ở ngoài mặt đường, phỏng chừng với con đường mới nhà sẽ bị ủi đi, đã tìm cách bán nhà đi nơi khác, công việc thường được tiến hành một cách kín đáo. Nhưng cũng có nhà vẫn sống bình thường không lo toan, họ nghĩ dù nhà có bị giải tỏa thì cũng sẽ được cấp nhà khác. Ngày tháng trôi qua, cuộc sống vẫn bình thường, vẫn hai dãy nhà khác biệt ngó nhau. Một bên là những ngôi nhà gạch khang trang, những tường vôi sáng, những tầng gác cao mãi. Một bên là những căn nhà hẹp thấp, mái tôn, mái lá, mái ngói chen nhau xô đẩy những đường nét hỗn độn, khu nhà này mãi sau mới có, lúc trước trong khi đã có những căn nhà ngói ở bên kia đường thì bên này nhiều khoảng đất không còn là bãi rác men mãi cho xuống tới lòng một con sông nhỏ dơ bẩn ăn thông vào một miệng cống lớn từ phía trung tâm thành phố đưa ra, mỗi lúc, theo thời gian những căn nhà lá, nhà tôn mọc lên nhanh chóng bất ngờ. Có những bãi rác vào buổi chiều hôm trước, sáng hôm sau người ta đã thấy có một căn nhà mới và một gia đình mới bắt đầu cuộc sống. Những bức tường dựng lên hối hả, trong khi cuộc sống đã bắt đầu... Theo với thời gian, với hai dãy phố qua một con đường đã là hai hình ảnh đối nghịch. Người chồng chỉ dãy phố nói với người vợ: bà thấy không, bỗng nhiên người ta phải chọn để sống về một phía, nào ai có sắp xếp gì, mình thuộc khu nhà lá.
Bẵng đi một thời gian kể từ khi những nhân viên kiều lộ tới ngắm tới đo, dân chúng bỗng như quên hẳn việc con đường có thể mở rộng. Một buổi tối, một căn nhà trong cuối xóm bỗng bốc cháy, cả xóm nhốn nháo, đặc kịt những người chen ngoài đường, tiếng gọi nhau ơi ới. Một đoàn xe cứu hỏa tới nơi nhưng không làm cách nào vào được trong con đường đã đặc những người. Mãi khi ngọn lửa đã được dập tắt người ta mới đưa được chiếc ống nước vào tới căn nhà bị cháy. Thiệt hại không đáng kể. Người ta nói tới việc làm của nhân viên cứu hỏa, nói về nguyên nhân đám cháy, nói về con đường hẹp... Vài ngày sau người ta lại xôn xao về việc con đường được mở rộng, lần này có vẻ thực tế hơn, một chiếc xe hủ lô xuất hiện nằm ngoài đầu đường, những đống đá xanh được đổ xuống, và cùng lúc những cọc sắt lớn được đóng xuống dòng sông nhỏ phía cuối con đường, một chiếc phà từ ngoài sông lớn vào đó và công việc đã khởi đầu. Người chồng nói: tôi mong sống được tới khi cây cầu được bắc để ngang qua một lần. Người vợ mỉm cười. Chiếc xe lăn cũ kỹ nặng nhọc vẫn nằm đó nguội lạnh cùng với những đống đá thấp dần. Ngoài lòng sông, cuối con đường, chiếc máy chạy mỗi ngày tám giờ gieo tiếng búa sắt chát chúa lên đầu những cột sắt lớn từ từ cắm sâu xuống lòng sông. Tiếng động khua vang một sinh hoạt mệt nhọc. Có khi bỗng chiếc máy ngừng nổ kéo dài cả tuần lễ. Người vợ nói: có khi phải mất mấy năm không chừng. Người chồng lặng lẽ hút thuốc, mắt lơ đãng trên trang sách trước mặt...
3.
Linh mục tới cửa căn nhà thì ngừng lại, ngọn đèn dầu để trên tủ sách chiếu ánh sáng vàng lạnh không đủ sáng căn phòng im vắng, cửa đi vào phía bên trái căn nhà, khoảng trống trước cửa, trong cùng gần tủ sách có một chiếc ghế xếp bằng vải, bên cạnh để một chiếc ghế đẩu thấp có một cái gạt tàn thuốc, cửa vào nhà trong nằm sát bên tường mé tay mặt ngoài đó kê một chiếc bàn gỗ cao, mặt rộng vây quanh có sáu chiếc ghế dựa gỗ để ngay ngắn nghiêm chỉnh, giữa bàn trên một chiếc khăn thêu nhỏ để một chiếc bình men sứ Giang Tây bóng dáng kiêu kỳ không có cắm hoa. Trên vách tường, đầu chiếc bàn treo một bức hình chụp gia đình. Hai vợ chồng và ba đứa con. Vị linh mục đứng bên chiếc bàn ngắm nghía. Hơn hai năm căn nhà không có sự thay đổi, thiếu một bó hồng đơn sơ trên chiếc bình sứ. Vị linh mục gõ tay xuống chiếc bàn. Tiếng động khô. Người vợ từ trong nhà đi ra, chiếc áo cánh nâu gọn gàng, mái tóc búi cao :
- Anh lại chơi, chúng tôi vẫn có ý trông anh.
- Anh vẫn thường, chị...
- Vâng - Người vợ kéo một chiếc ghế ra - Anh ngồi chơi, nhà tôi xem chừng yếu hẳn.
- Hồi đó vị bác sĩ nói anh có thể sống ít nhất cũng ba bốn năm nữa, năm nay anh cũng gần sáu mươi rồi còn gì, bọn chúng tôi đều già rồi. Chị thấy...
- Dạ, năm nay anh ấy 59, hình như hơn anh hai tuổi.
- Vâng.
Người vợ cầm chiếc đèn để sang bàn, khêu lớn ngọn. Vị linh mục cầm chiếc gương ra tay và lau vào vạt áo, những sợi tóc hoa râm lưa thưa trên mang tai, những sợi tóc mượt dài vuốt về sau gọn gàng. Người vợ vào nhà trong, lúc sau đỡ tay cho người chồng bước ra ngoài. Vị linh mục đứng lên đỡ một bên tay.
- Có lẽ tôi sắp chết thật rồi anh ạ.
Người chồng nói và nhìn vị linh mục.
- Lần này tôi thấy anh yếu đi nhiều.
Người chồng được đỡ nằm xuống chiếc ghế vải. Người vợ trở vào nhà trong bưng ra hai ly nước trà nóng rồi để lại hai người đàn ông trong câu chuyện. Vị linh mục kéo chiếc ghế xa bàn, lùi vào trong vách, trước mặt người chồng, cầm ly nước trong lòng hai bàn tay, ly nước nóng khiến vị linh mục phải xoay hoài chiếc ly. Người chồng ngả người nhìn người bạn cũ nay cũng đã già nhiều. Những nếp nhăn nơi đuôi mắt, những sợi tóc bạc và nét mặt ưu phiền chùng mệt, bao nhiêu năm một tinh bạn lặng lẽ nhưng thân tình, một người chọn con đường tu, một người phóng mình ra ngoài với những náo nức lửa đỏ một thời cháy bỏng. Có lúc tình bạn thời nhỏ biệt tăm rồi bỗng xuất hiện trong từng giai đoạn của đời sống. Khi cuộc chiến bùng nổ. Khi người bạn lập gia đình. Khi đứa con đầu lòng ra đời. Khi kháng chiến. Khi chứng nan y xuất hiện. Và bây giờ, có lẽ giai đoạn chót trong cuộc đời một người... Người chồng nói :
- Tôi thấy tôi sắp chết, chợt tỉnh táo một cách quá sức, tôi đã trối trăng với nhà tôi hết cả rồi...
- Tôi có cầu nguyện cho anh vào ngày sinh nhặt vừa rồi, thật tiếc hôm đó tôi không lại thăm anh được.
- Cám ơn anh.
Vị linh mục ngừng lại, hai tay đan vào nhau để trong lòng áo chủng đen, mặt hơi cúi, đôi mắt lặng im nhìn xuống, người chồng dụi tàn thuốc chậm chạp.
- Có lúc tôi nghĩ không nên nói với anh điều này, nhưng chính lúc này tôi lại nghĩ tới điều đó, tôi nghĩ anh sẽ cho phép tôi nói với anh và sau đó anh sẽ không phiền lòng gì cả, tôi với anh và tình bạn thiết - vị linh mục ngừng lại, nhìn vào người bạn, ánh sáng chập chờn và khuôn mặt nhợt nhạt, chỉ còn lại đôi mắt long lanh - anh cho tôi rửa tội cho anh trước khi anh qua đời... tôi nghĩ, bao nhiêu năm qua, với tuổi chúng ta, anh có lắng nghe thấy một lời kêu gọi nào... Tôi cũng mong anh cho phép để anh an nghỉ trong đất thánh...
Người chồng lặng lẽ lắng nghe, câu nói của vị linh mục ngừng đã lâu, tiếng chiếc đồng hồ quả lắc từ nhà hàng xóm. Người chồng đốt một điếu thuốc. Vị linh mục uống ngụm nước trà đầu tiên.
- Tôi đã nói hết với nhà tôi. Tôi thành thật cám ơn anh với tình bạn chúng ta có thể nói với nhau được như thế. Tôi đã xin nhà tôi hiến xác tôi cho viện ung thư nghiên cứu. Đất thánh không phải là nơi tôi tới. Tôi không nghe thấy một kêu gọi nào cả. Tôi biết rõ giới hạn của đời sống, khoảng hư không cuối cùng chờ đợi, nhưng không phải vì thế mà tôi thấy cần thiết tìm kiếm một hy vọng cứu chuộc. Tôi chỉ có lương tâm tôi. Có tội không phải rửa mà hết được... Gần ba năm nằm lại trong căn nhà này, bên vợ con, tôi biết giới hạn của đời sống mình, nhưng tôi cũng không thấy có điều gì phải ân hận, nếu không muốn nói là hài lòng. Tôi hỏi thật anh: có phải tôi là một con người kiêu ngạo đáng ghét không?
Vị linh mục lắng nghe. Người chồng hút thuốc, cụm khói đặc trắng tan lơ đãng. Vị linh mục ngả người về sau một chút.
- Tôi xin lỗi anh.
Người chồng cười thành tiếng nhỏ :
- Người ta nói với tôi anh là một người cấp tiến mà sao anh còn câu nệ vậy, mình có thể nói chuyện thẳng thắn với nhau mà.
- Không có đâu anh, tôi không là gì đâu, tôi chỉ là một tu sĩ bình thường vậy thôi, vì vậy tôi vẫn nghĩ có lẽ câu chuyện từ ba mươi năm trước vẫn làm anh bực mình.
- Tôi bằng lòng với chuyện đó. Nhà tôi vẫn cầu nguyện mỗi tối, nhưng nhà tôi không đến giáo đường nữa. Anh đừng nghĩ chuyện riêng đó khiến tôi bực mình. Hoàn toàn không. Ngó bộ tôi không có đạo thì tôi không phải là người sao? Ngó bộ tôi không rửa tội thì tôi là người tội lỗi sao. Gần hết cả xã hội Tây phương đều tốt lành, đều trở thành thánh, được vào thiên đường cả đó sao, anh ngó xem, những tội ác ở Á Phi, ở Châu Mỹ La Tinh, những người da trắng, những người trong hệ thống giáo hội họ làm gì, họ có nhà thờ tráng lệ, có thánh giá bằng vàng, họ nhân danh cái này cái khác, họ đưa cả tượng Chúa tới pháp trường... Anh đừng nghĩ tôi sắp trở thành một người chống cái này cái khác, tôi chỉ nói, chỉ muốn nói: con người và những xấu tốt của nó, tôi nghĩ anh hiểu tôi, sau chót của một hành trình thường người ta ngừng lại ở một giáo đường, tôi không tin, anh có nghĩ rằng: chót hết người ta sẽ có một thái độ khác, tôi muốn nói với anh về một tổng hợp đề... một đức lý. Đó không phải là bây giờ, ngay trong lúc tôi còn khỏe mạnh với tất cả tinh thần và thể chất. Có lúc người ta nghĩ mình như con múa rối, tôi thì không, tôi chưa đối đầu với một tuyệt vọng, cả cái chết...
- Tôi nhiều lúc... thật khó để tôi nói với anh được, cái cảm tưởng chông chênh...
Một cơn gió thổi thốc vào căn nhà im lặng, ngọn đèn dầu phụt tắt, ánh sáng yếu ớt từ trong nhà, từ những khe vách chiếu ra chập chờn. Điếu thuốc trên môi sáng ánh lửa đục. Người chồng nhấc lưng khỏi ghế, gượng người :
- Anh thấy, đời sống cô quạnh của tôi, ba năm ngồi lại sống với những người thân, tôi nhìn suốt lại đời mình và tôi mỉm cười, bạn bè chỉ còn lại mình anh, người ở ngoài cuộc...
- Không còn ai...
- Cũng còn một hai người, nhưng bạn tôi đều đã chết, còn lại đó là những người hèn, sống cũng như đã chết, anh nghĩ coi, nếu còn lựa chọn, có lương tâm để đương đầu làm sao để người ta thoát ra được một cuộc chơi vừa ngay thẳng vừa gian lận kéo dài hơn.
Tiếng bước chân nhẹ nhàng từ trong nhà ra, người vợ đứng nơi cửa vào trong nhà, quay trở lại khi mang theo ngọn đèn nhỏ. Vị linh mục nói :
- Con lớn của anh chị bây giờ được mấy cháu rồi?
- Dạ ba, mấy đứa nó cũng vất vả, cả năm nó về thăm nhà được vài lần. - Người vợ châm ngọn lửa sang ngọn đèn lớn - Anh nghĩ, thời buổi thế này, biết làm sao. Hồi sinh đứa nhỏ sau đó, giữa lúc ở nhà thương, thị trấn bị pháo kích, vợ nó sợ đến nỗi không biết mình sinh lúc nào. Thật tội. Nhà tôi định lập gia đình cho thằng nhỏ nữa là xong. Thôi thì cũng nhờ trời...
Người vợ mang ngọn đèn vào nhà trong. Không khí im lặng trở lại. Người chồng nhìn người bạn :
- Nhiều lúc tôi nghĩ: mình cũng tu rồi. Giáo đường của tôi thân mật hơn của anh.
Người chồng cười thành tiếng, vị linh mục mỉm cười :
- Tôi còn nhớ bài thơ của anh gửi cho tôi khi anh còn ở ngoài chiến khu.
- Đông phương mình có một cái đạo sống kỳ diệu, các cụ mình ngày trước ai cũng làm thơ, nhớ bạn làm thơ, nhớ nhà làm thơ, uống rượu làm thơ, lúc chết làm thơ... Nhiều khi đâu phải thơ, chỉ là vè thôi nhưng thực sảng khoái... Bây giờ thì mình mòn mỏi với những cái lăng nhăng... Có khi vẽ xuống đất mà làm một nhà tù, mà đã thế rồi thì thôi, đâu còn như trước cứ vào tới nhà tù là bọn tôi tìm cách vượt ngục. Thật nhiều lúc tôi giật mình không hiểu vi sao mình lại có thể sống sót.
Vị linh mục cúi xuống với bao thuốc, cầm tay ngắm nghía, đêm đang sâu dần. Vị linh mục đứng lên :
- Tôi xin phép anh, để ít bữa lại nói chuyện với anh lâu hơn.
- Anh về, tôi cám ơn anh đã lại thăm. Chắc bệnh của tôi cũng có thể qua tới mùa xuân...
Người vợ đi ra đứng nơi cửa :
- Tôi về, chị.
- Dạ, hôm trước con gái tôi nó gửi lời hỏi thăm anh.
- Dạ, cô ấy hồi này thế nào?
- Cháu nó nhớ nhà, nó còn những hai năm học nữa... Thong thả mời anh lại chơi, lâu anh không còn có dịp ăn cơm với chúng tôi.
Vị linh mục vừa nghe vừa bắt tay người chồng rồi cúi chào người vợ trước khi dời khỏi căn nhà. Đêm ở ngoài đường với ánh sáng vàng của mấy ngọn điện yếu. Người chồng nói: trông anh ấy hồi này già hẳn đi, mình coi, tôi còn trẻ hơn nữa. Người vợ nói: anh ấy có vẻ buồn, anh ấy đã tự coi như không còn gia đình từ ngày ấy. Nghe nói ông thân anh ấy bây giờ ở trong dưỡng trí viện, con cái thì mỗi người một ngả, người anh ở ngoài không biết thế nào, người em thì mới mất ngoài mặt trận, tôi nghe nói mà không dám hỏi anh ấy. Bà cụ là một người ngoan đạo, chỉ còn biết cầu nguyện... Anh ấy cũng không còn ai thân thiết ngoài vợ chồng mình. Người chồng bưng ly nước uống rồi thắp một điếu thuốc nằm im trong ghế...
4.
Buổi cơm tối bắt đầu sau khi người con trai thứ hai đã trở về nhà, người chồng ngồi vào từng bát cơm, người con trai thư cầm thư ở trên bàn, người chồng nói :
- Thư của anh con đó.
- Dạ.
Người con mở thư đọc chăm chú, người vợ nói :
- Vợ chồng nó mà mang được mấy đứa nhỏ vẻ chơi thì vui quá, tôi vẫn muốn nó để đứa con lớn ở nhà với tôi, nhà có trẻ con nó vui.
- Thứ nhất trẻ khóc, thứ nhì trẻ học, các cụ mình vẫn nói thế.
- Trời, cực cho anh chị ấy quá, chẳng còn thì giờ nữa...
Người con trai bỏ lá thư xuống bàn, cầm bát đũa và bắt đầu ăn. Người vợ nói :
- Các con nó hẹn về mà mãi chẳng về được, có khi con đường này với cây cầu làm xong bọn nó mới về được cũng nên...
- Thế có khi tôi chết rồi.
Người chồng cười, người vợ nhìn xuống bát cơm im lặng, người con nhìn mẹ :
- Ba mẹ thì già mà con cháu mỗi đứa một nơi.
5.
Cha tôi nói: mình nợ nhiều quá mà không trả được, nợ từ vợ con trở đi... Mỗi lúc tôi thấy cha tôi một già đi nhưng cũng từ đó có theo sự đằm thắm. Ngày bắt đầu được biết mình sẽ chết, giới hạn có được khoảng ba năm, lúc đó cha tôi buồn, vẻ buồn thoáng đâu đó và có một sự bực bội bất ngờ, nhưng ngay sau đó thì cha tôi trầm hẳn xuống, từ đó ông không quan tâm đến, ông vui với đời sống thầm lặng và đầm ấm trong cuộc sống gia đình. Cha tôi ngay từ nhỏ chừng như đã tự lựa chọn cho mình một cuộc sống. Mẹ tôi là người có đạo Thiên Chúa, cha tôi thì không. Hai người cưới nhau không tới giáo đường và bị cả hai bên gia đình chống đối không thừa nhận. Điều này kéo dài trong nhiều năm. Dù vậy cũng không có nghĩa mẹ tôi bỏ đạo. Cha tôi thường cùng đi với mẹ tôi tới một nhà nguyện nhỏ. Ở trong nhà những ngày giỗ tết mẹ tôi coi sóc rất chu đáo. Tôi lớn lên trong không khí gia đình đó. Mẹ tôi nói, mãi khi tôi năm tuổi cha tôi mới thấy mặt con. Khi lớn lên cha tôi cũng thường vắng nhà, ông theo đuổi những công việc riêng của ông. Mẹ tôi lo công việc làm ăn nuôi nấng con cái. Trong những năm chiến tranh có lúc chúng tôi tưởng ông đã chết. Nhưng cuối cùng ông đã trở về. Những sợi tóc hoa râm giấu trong mái tóc dày mềm mại. Có nhiều lúc tôi muốn được nghe cha tôi nói cho biết những gì ông đã sống trong suốt những năm đó. Trong cuộc sống những lúc bên gia đình, từng thời gian khác nhau, từng hoàn cảnh khác nhau ông nói về những đoạn ngắn nào đó trong cuộc sống cũ. Trong những câu chuyện đó tôi nhìn thấy cha tôi với nét mặt rạng rỡ: đời sống hào hùng trong quá khứ như những trang sách tràn lửa đỏ. Một chiều cuối năm trên vùng Việt Bắc, trong thị trấn Lạng Sơn có mưa tuyết, mong ước trở lại ngày Tết trong gia đình, cha tôi nhắc đến hai câu thơ của Thế Lữ: Rũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang... Chuyện người bạn đường trước khi chết trối trăng cho anh hai người con nhỏ. Lúc trở về đi tìm gia đình anh ấy không biết ở đâu, thật ân hận, bây giờ bọn đó có khi cũng chưa biết cha chúng chết rồi. Cha tôi nói về vùng núi non Hòa Bình, ngày vào trong Trị Thiên, một đêm xuôi sông Mã, thời ở Sài Gòn rồi lên đường đi Xiêm La, có lúc ngừng chân lại ở Đế Thiên Đế Thích... Những ngày nằm lại trong những gia đình người Mèo... Đất nước đối với ông thật hẹp nhỏ. Cái vận của nước mình như thế rồi. Cứ coi cái địa thế cũng thấy, nước non gì như con trăn, có bao giờ mà nó nằm im được, nó cựa quậy hoài. Phải gồm ba bốn xứ lại với nhau, phải có một cách khác, cái khối Trung Hoa nó như hòn núi đè trên vai, là lực sĩ thì cũng có lúc phải sụm, may không tan xác là phúc rồi... Cha tôi đưa đến cho chúng tôi một thực tế, nhưng cũng đưa đến với chúng tôi một mơ ước, đưa đến chúng tôi một thái độ phải có, phải lựa chọn trong một tinh thần kiêu hãnh. Không được cúi đầu, phải ngẩng mặt lên ngay thẳng. Sống như mình nghĩ... Những điều cha tôi mang đến đưa chúng tôi tới những khó khăn. Nhưng thực chúng tôi hài lòng với sự khó khăn đó. Những điều chúng tôi làm, cha tôi muốn chúng tôi cho biết, và ông, nếu có ông góp ý với chúng tôi, nhưng bao giờ ông cũng để cho chúng tôi quyết định. Hồi anh tôi lập gia đình, cha tôi chỉ hỏi anh: có thương yêu người ta thực không? Khi bên nhà gái có ý khó khăn, ông khăn áo tề chỉnh tới nói chuyện và mọi chuyện êm đềm... Cha tôi nói: có người nói ba có máu làm loạn, ba nghĩ cũng có lý, nhưng thực thì đâu phải với nghĩa xấu của nó, phải nói, ba là người bảo thủ mới đúng. Lúc trước, khi phải bày tỏ thái độ với một việc gì cũng có vẻ một người dữ dằn, nhưng sau rồi ông biến đổi, ông lặng im tức là thái độ của ông. Khi em tôi lên đường xuất ngoại, ông nằm trên giường cả tuần, ông lo lắng đủ điều, mẹ tôi nói ông khóc vì nhớ con. Lúc đó ông lo có lẽ ông không sống được cho đến khi người con gái độc nhất trở về. Hàng tuần cha tôi dành thì giờ ngồi viết thư cho con gái, ông thuật lại những chuyện trong gia đình, những vấn đề thời sự, ông nói với con như nói với một người bạn thiết, cùng đó ông khuyên con gái, ông nói: nó ở bên ấy đất khách quê người nhất định là buồn lắm. Hồi xưa ba có lúc trông tin nhà đến không ăn không ngủ được, một cái thư với người ở xa quý lắm. Viết xong thư ông ngồi đọc cho cả nhà nghe rồi ông thường nói với mẹ tôi: bà có gì nói với con gái thì nói, tôi làm thư ký cho. Ngủ trên đồi gió, xuôi thuyền uống rượu trên sông mùa đông lạnh, ngồi nhặt những bông gạo trong bếp mùa tháng mười... những hoạt cảnh đó cha tôi vẫn nói đến, còn chúng tôi, chúng tôi chỉ được nghe và mơ ước. Thời các con không vui như xưa, bây giờ sao đời sống buồn nản quá. Tôi cũng nhận thấy chừng như thế... Có lẽ cha tôi không qua được mùa xuân, chúng tôi thấy có một lo âu len vào nhưng với cha tôi, ông vẫn bình thường, chừng như cha tôi đã tự mình nhìn thấy một điều gì đó. Tôi mong được sống cho tới khi cây cầu bắc xong và con đường được mở rộng. Cây cầu và con đường rồi chúng tôi được ngang qua. Cha tôi nói: một bên những gia đình giàu có, một bên những gia đình lao động. Trên lý thuyết có người nghĩ nên phá khu nhà gạch đi, có bên nói để nguyên khu nhà gạch đó nhưng phải thay khu nhà lá bằng nhà gạch, có người thì nói: nó như thế rồi thì cứ để nó thế. Cha không nghĩ tới điều đó, cha nghĩ đến con người, việc chính là con người, mọi người tốt, công việc tốt thì những cái khác sẽ thay đổi. Khi không có ai làm việc với Tây với Tàu nữa thì họ chẳng làm cách chi mà cai trị được mình. Cái con người... Vì cái tháp Babel mà người ta bị làm cho ngộ nhận nhau, nhiều khi cũng nên tin như thế. Cha tôi thường nói tới những chuyện thực tế trong đời sống, chính con người và đời sống đó. Cha tôi không nói tới những điều mà theo tôi cuối cùng người ta đứng trước một hư không. Với tôi nhiều khi người ta phải đưa tới trước một sự khốc liệt nào đó, và khi đó con người mới có cơ hội nhìn thấy mình. Người ta chết rồi như thế nào, còn một đời sống khác không? Cha tôi đã khước từ một thay đổi được coi như tìm lại đức tin, tôi không hiểu sao về điều này, thực ra đối với tôi cũng là chuyện dửng dưng, tôi coi những giáo chủ chỉ là những nhà đạo đức. Chỉ có thế. Trước hết họ là người, một con người tốt. Và sau là những nhà đạo đức... Rồi cha tôi sẽ chết cũng như tôi, như mọi người, tôi nhìn thấy mốt tấm gương khác...
6.
Buổi sáng bắt đầu cùng với sự huyên náo ngoài con đường. Người chồng ngồi nơi chiếc ghế nhìn ra đường. Người vợ nói: Người ta làm đường thật rồi ông, nhưng làm dưới mé sông. Chiếc xe ủi đất máy nổ nặng nhọc hoạt động không ngừng. Người chồng nói: bà cho tôi ra hiên chút. Người vợ đỡ người chồng ra ngoài. Mé dưới gần bờ sông, nơi đang xây cất cây cầu những công nhân đang làm việc. Khi con đường dựơc mở rộng, cây cầu được bắc xong... Người chồng nói: ít ra tôi cũng có may mắn được nhìn thấy, có khi tôi sẽ thấy công việc xong nữa là khác... Nụ cười trên môi người vợ...
1969