Saturday, August 13, 2016

Nơi máu chảy, ở ngoài - Dương Nghiễm Mậu


Nơi máu chảy, ở ngoài

.
1. Chuyến bay đi được nửa đoạn đường thì người tiếp viên hàng không lưu ý chúng tôi buộc dây an toàn, sửa ngay lưng ghế và tắt thuốc, cơn bão nhỏ đã trở lại vùng duyên hải từ buổi sáng và đang thổi vào các tỉnh phía bắc, máy bay bị nhồi bởi những cơn gió mạnh và bên ngoài cửa kính một màu trắng đục mênh mông. Chuyến bay chỉ có ít hành khách, những hàng ghế trống nối tiếp nhau, những người ở trên chuyến bay chắc chắn là những người bắt buộc phải đi, nơi thị trấn đó đang bị đe dọa, những chuyến bay đã không đủ chỗ dành cho những người trở về vì thế đường bay đã đặc biệt được tăng cường. Ngoài cửa kính tôi thấy những vệt nước chảy ngang, mưa và bão ở trong bầu trời.
Rất mệt nhọc máy bay mới đáp được xuống phi trường, mọi người đều như lả đi với cuộc di chuyển. Người tiếp viên nói với tôi: chúng tôi tưởng chuyến bay phải quay lại, trời mù quá. Sửa lại quần áo, bước ra, gió thổi thốc vào cửa máy bay cùng với những hạt mưa nhỏ, bầu trời thấp và đầy mây tối, tôi nhìn đồng hồ, ba giờ mà tưởng như sắp tối. Sân bay ướt át, phía trong, tôi nhìn thấy một đám đông chen lấn lố nhố, chuyến bay sẽ chẳng thể nào chứa hết được đám người đang chờ đợi, và chúng tôi, những người tới, thật quá ít ỏi đối với những người ra đi.
Người nữ tiếp viên hàng không đã hướng dẫn chúng tôi vào phòng đợi nhỏ, cô ta giải thích: xe ca bị kẹt và để tránh sự chen lấn của hành khách. Cùng đi với chúng tôi có hai viên chức đã có xe riêng đón, chỉ còn lại trong phòng năm người, ba dân sự và hai quân nhân, tôi là người ít tuổi nhất. Trong câu chuyện tôi được biết hai quân nhân ra nhận nhiệm vụ mới, còn lại hai người, một người ra đưa cha mẹ già và gia đình người em trở vào, một người còn lại ra tìm người con mất tích, khi nói, ông cho tôi hiểu như người con đã chết và có khi ông sẽ phải đưa xác con trở về. Ông ta khoảng gần năm mươi có những sợi tóc bạc, gương mặt hơi tối lại phảng phất vẻ buồn.
Tôi mở cánh cửa thông sang phòng đợi của phi cảng, tiếng ồn như một cơn sóng mạnh ào lên, đám người chen lấn nhau, ai cũng như cố gắng lấn ra phía cửa. Đám người đông nhộn nhạo, toàn một màu sẫm chết, không có một điểm sáng nào trên y phục những người có mặt, đám người làm mất dạng những dãy ghế dài vẫn có trong phòng đợi. Tất cả chỉ còn lại một khối di động lúc nhúc cùng với tiếng ồn ào không phân biệt được đâu là tiếng kêu gào và tiếng khóc. Một đứa nhỏ được bế cao lên khỏi vai, tiếng la thất thanh của một người đàn bà kêu người ta thôi chen tới. Tiếng la như tiếng la của một người đang bị đe dọa trước miệng ác thú.
Cánh cửa thông ra sân bay bị phá tung, đám người ùa ra, những nhân viên an ninh không sao cản lại được. Tôi trông thấy ngoài xa một toán lính chạy dọc theo một đường đứng xít lại với súng cầm ngang, có tiếng súng nổ, thứ tiếng nổ đe dọa mạng sống làm chùn bước, đám người đã túa ra bỗng nhiên chụm lại một dám. Tiếng động ồn ào mất biến khỏi phòng đợi. Tôi nghe thấy rõ tiếng gọi yếu ớt của một người đàn bà và tiếng khóc của một đứa bé trai khoảng ba tuổi đang theo sau, đó là người cuối cùng ra khỏi phòng đợi lớn. Bây giờ chỉ còn những chiếc ghế đợi cô quạnh và rác rưởi đầy trên nền gạch hoa bẩn thỉu. Phía xa, nơi chiếc quầy vẫn dùng bán vé, một người đàn ông tóc bạc đứng phía trong nhìn ra ngoài với miệng há hốc như đang chăm chú theo dõi đám người đang đứng bên ngoài phi đạo.
Tôi bỏ phòng đợi ra đứng nơi hiên của phi cảng. Một chiếc xe dép trờ tới và đón hai quân nhân đi, bây giờ chỉ còn lại tôi và hai người nữa. Đám người ngoài sân bay đang được dồn về phía xa. Và tại đây từng người một được kiểm soát để lên máy bay, họ vội vàng tay xách, tay mang dắt díu nhau chạy về phía thang máy bay, những mái tóc bù rối tung lên trước gió. Người thứ nhất nói :
- Có người chờ đã tuần lễ không lên được máy bay. Có lẽ họ là những người cuối cùng.
- Cuối cùng?
- Trong tuần lễ vừa qua họ đã dắt díu nhau chạy vào trong, họ đi bộ, tội nghiệp không thể tưởng...
Người thứ hai nói :
- Tôi không hiểu gia đình tôi đã đi chưa?
Người đàn ông có những sợi tóc bạc :
- Có lẽ chỉ còn những người đã chết và những người cầm súng ở lại...
Không còn người đi lại phía thang máy bay nữa. Đám người bị dồn trở vào, thang máy được mang đi, máy bay bắt đầu chạy. Chúng tôi trở vào trong phòng đóng cửa lại. Bụi mù. Đám người được dồn như khựng lại không di chuyển. Những tiếng súng chỉ thiên chừng như cũng không thay đổi. Trời mỗi lúc một sầm xuống cùng với cơn mưa mau hạt. Chiếc máy bay đã ra tới đầu phi đạo phía xa. Tôi mở cửa phòng ra ngoài tìm phòng rửa mặt. Những lối đi nhơ bẩn như của một ngôi nhà bị bỏ hoang lâu ngày. Lúc trở lại tôi không còn thấy hai người đồng hành, chừng như chiếc xe ca cuối cùng chở các công nhân của hãng hàng không đã đưa họ về. Tôi lo âu cầm chiếc xách tay ra khỏi nhà ga đứng nơi cửa chờ đón với hy vọng một chiếc xe nào ngang qua. Hoàn toàn vắng vẻ, bên kia khoảng sân, khu trại lính vắng ngắt. Trước kia là một trại lính Mỹ, chừng như họ đã rút đi hết. Một chiếc xe nhà binh chạy vụt qua. Tôi lo ngại với quãng đường dài còn lại phải vượt qua. Một chiếc xe dép trắng từ ngoài chạy vào, chiếc xe đỗ lại trước hiên nhà ga. Một người đàn bà bước xuống vẻ vội vàng. Người đàn bà mặc chiếc áo dài màu gụ, quần đen đôi kính sẫm trên khuôn mặt trái soan trắng. Người đàn bà đi vào trong phòng đợi, tôi quay lại theo dõi, bà ta nhìn quanh quất không thấy ai, bà tiến tới phía cửa ra phi trường đứng áp nhìn ra ngoài rồi từ từ trở ra ngoài, bà đến phía tôi :
- Thưa ông có còn máy bay nữa không?
- Có lẽ hết, chuyến bay đã trở vào.
- Ông mới ở trong ra?
- Vâng.
Người đàn bà im lặng nhìn quanh quất vẻ buồn :
- Thưa ông không còn chuyến nào nữa?
- Dạ, tôi tin thế.
Người đàn bà tần ngần bước đi mấy bước ngắn nơi hiên nhà. Lúc người đàn bà trở lại, tôi nói :
- Chuyến bay chót chỉ có bảy hành khách, tất cả mọi người đều đi vì công vụ, trừ một người ra đón gia đình và một người đi tìm tin con trai. Bà đón người nhà?
- Dạ vâng, một người bạn trai... Ông nghĩ còn có thể có chuyến bay nào nữa không?
- Tôi tin không, tất cả hành khách đã bị đẩy ra khỏi.
Người đàn bà bỏ kính xuống tay lau vào vạt áo, đôi mắt đẹp lãng mạn với hàng mi xanh và quầng mắt hơi tối lại, không có một trang điểm trên khuôn mặt u buồn quý phái. Người đàn bà nói :
- Ông đợi xe?
- Tôi đã bị bỏ lại và chờ tim xe quá giang.
- Ông cho phép tôi đưa ông về.
- Cám ơn bà. Tôi cũng có ý định làm phiền bà.
Người đàn bà ra xe lên trước, tôi đi vòng lên cửa bên kia, lúc đưa chiếc xách tay lên, người đàn bà ngồi sau tay lái đưa tay cầm lấy chiếc xách để về phía băng ghế sau. Chiếc xe ra khỏi sàn nhà ga phi trường chạy theo con đường vòng đất đỏ để ra quổc lộ. Đường vắng ngắt. Khung cảnh chung quanh hiu quạnh, khung cảnh của một ngày báo hiệu mưa bão. Chiếc xe phóng nhanh trên quốc lộ rộng và phẳng bóng...
Chúng tôi vượt qua khoảng đường hai bên có những xóm nhỏ, tất cả đều không còn sinh hoạt, sau đó chúng tôi phải qua con đường vắng hai bên là ruộng nước mênh mông, bầu trời thấp đục. Xe vào thành phố. Người đàn bà lặng lẽ trong suốt khoảng đường dài. Khi vào tới đầu thị trấn. Người đàn bà hỏi :
- Ông về đâu?
- Bà cho tôi xuống phố.
Tôi lấy một điếu thuốc châm hút :
- Mọi người đã đi khỏi sao bà còn ở lại?
- Tôi đợi một người bạn để mai trở vào, chúng tôi đã dành chỗ máy bay... Nhưng hôm nay người bạn không ra...
Người đàn bà cho xe chạy chậm, giọng kể, buồn :
- Hôm nay là ngày đám cưới của chúng tôi, nhưng mọi việc đã không như dự định. Mới mấy hôm trước, ai nghĩ được tình hình bất ngờ như vậy.
- Sao bà không thay đổi ngày...
- Không, tôi không muốn thay đổi nữa, ông biết, chúng tôi đã phải thay đổi như vậy tới ba lần, một lần anh ấy được lệnh qua Lào, một lần qua Cam Bốt, một lần mẹ anh ấy ốm nặng... Lần này tôi đã đánh điện cho anh ấy, dù dám cưới chỉ còn hai đứa chúng tôi... Tôi đã ở lại đây dể chờ đợi hôm nay và sẽ đi không trở lại thị trấn này nữa. Nhưng anh ấy đã không trở lại, và thêm một lần tôi thất bại...
Giọng đều đầy cảm xúc nhưng đã được giữ lại trong một dáng vẻ trầm tĩnh. Tôi nhìn thẳng vẻ con đường phía trước, tấm biểu ngữ giăng qua đường với nét chữ đỏ viết vội như những vết máu tươi trên nền vải trắng. Tôi nghĩ người đàn bà sắp òa khóc. Tôi muốn kiếm một lời an ủi nhưng không biết nói thế nào. Con đường vắng bóng người, mấy chiếc xe nhà binh chạy ngang. Những cửa nhà đóng kín với chữ phấn: Nhà có người ở. Nhà có chủ.
- Tôi định mai chúng tôi đi khỏi, nhưng chắc tôi ở lại, mẹ tôi đã không chịu ra đi. Mẹ tôi đã thắng.
Tôi muốn tìm nơi người đàn bà một lời giải thích nhưng không biết nói sao :
- Chiến tranh đã làm cho đời sống bất định...
Tôi nghe thấy câu nói của chính mình như vô nghĩa. Xe đã ngang qua cây cầu nối hai bên thị trấn với nhau. Dòng nước vẫn trong xanh. Xe xuống phía chợ, một vài người, mấy quán nhân. Người đàn bà nói :
- Ông xuống đây?
- Dạ, bà cho tôi xuống nơi cuối đường.
Xe chạy tới rồi đỗ lại. Tôi nói :
- Rất cám ơn bà.
Tôi mở cửa bước xuống, người đàn bà thò tay về phía sau với cho tôi cái xách tay.
- Cám ơn ông, có ông tôi được nói, cả mười ngày nay tôi không được nói với ai tiếng nào. Chúc ông may mắn.
Tôi đóng cửa xe định quay đi. Người đàn bà mở cửa nói :
- Tôi sợ ông không kiếm ra người quen, nếu cần ông ghé lại chỗ nhà tôi.
Tôi cầm lấy tấm danh thiếp, người đàn bà đóng cửa xe rồi bước đi.
Tất cả các cửa hãng đều đóng, ngôi chợ bị đốt cháy chỉ còn lại một xác nhà nhem nhuốc đen đúa. Một con chó hoang chạy dọc theo con đường mòn từ trên lộ xuống bờ sông. Tôi đi vào thành. Nhà người quen đã đóng cửa và khóa trái. 


2.
Bên kia con đường nhựa là hồ sen, mặt hồ rộng toàn một màu xanh và những bông hoa trắng điểm đều. Giữa hồ có một cái gò đất trơ vơ mấy ngọn cây khô và hai bức tường gạch đã cũ, nơi đó xưa kia có một ngôi nhà dành cho vua ngự, và tên hồ mang theo một ý nghĩa, hồ làm cho lòng người lắng lại. Bầu trời bỗng như sáng hẳn lên, không có nắng, những mặt lá sen như lóng lánh với nước mưa còn đọng lại. Đã cuối mùa hè chưa? Đầu hè và những cơn gió thổi với hương thơm ngào ngạt thanh khiết. Cha tôi nói: nấu nước trà phải gạn lấy những nước mưa đọng trên lá sen mà nấu thì trà mới ngon mà không mất hương trà. Tôi nhớ những hạt cốm xanh như ngọc bích để trong lòng những chiếc lá sen cuối mùa. Tôi như còn thấy vị ngọt của những nhân sen còn non chua đầy trong lớp vỏ mỏng xanh mọng. Rất xa, bên kia mặt hồ, một làn khói lam bốc lên uốn éo. Một người đàn bà mặc quần áo tang, chít khăn sô tay cầm bó hương ra đứng bên bờ hồ vái về phía trước. Tôi gọi người con gái bán hàng cho tôi một ly nữa. Người đàn bà bắt đầu kêu gào thảm thiết, bầu trời tối dần lại với những đám mây vần vũ. Cô gái bỏ chiếc ly xuống bàn.
- Tội nghiệp chị ấy quá.
Tôi uống một hớp, nhìn lên :
- Chị ấy khóc ai vậy?
- Chồng chị ấy, chết không lấy được xác...
Tiếng người đàn bà kêu gào mỗi lúc một thảm thiết. Những cơn gió mạnh thổi rạp những tàn lá sen trên mặt hồ. Người đàn bà vẫn kêu gào, chị ta ngồi xuống lăn lộn, rồi bỗng nhiên chị đứng lên chạy qua, chị chạy đi chạy lại ven bờ hồ với chiếc áo trắng dài phấp phới trong gió. Tôi nói :
- Sen nhiều quá, nhà ở đây thích...
- Vô vị, hôm nay em hái ít hoa mang ra chợ, không có người mua mà lại nhiều người bán quá... Chợ chỉ thấy bán hoa sen với mận, người ta đi hết rồi còn ai cúng kiếng gì nữa.
Người đàn bà đã biến vào một ngôi nhà nào đó. Tôi uống cạn ly rồi trả tiền đứng lên. 


3.
Ngọn đuốc cháy bập bùng nơi góc công viên, một nhóm người tụ quanh. Người đàn bà đang khóc: ới con ơi là con ơi, sao con phải chết tội nghiệp, sao con không được sống cùng mẹ, ới con ơi là con ơi... Tiếng khóc u uất nghẹn ngào vẳng đưa trong buổi chiều im vắng quạnh quẽ.
Tôi tới bên, lách giữa hai người đàn ông ngó vào trong. Hai người đàn ông đang đào một cái hố sâu. Ánh đuốc bập bùng soi rõ những cục đất ướt nhão được đưa lên trên.
- Người ta đào gì vậy?
- Tìm hài cốt...
- Của ai vậy?
- Con trai chị ấy.
- Sao lại tìm ở đây?
- Cầu hồn, hồn chỉ ở đây... Hồi bấy giờ chỗ nào cũng có người chết, người ta lấp xuống cho xong.
- Thấy chưa?
- Thấy mà còn đào gì nữa?
Giọng người đàn ông hơi gắt. Hố lớn đào sâu đã hơn đầu người. Bên cạnh đống đất mới có cắm một bó hương đang bốc cháy. Chợt có người nói :
- Đây rồi...
Người đàn ông dộng cán mai xuống, nghe tiếng gỗ. Người đàn bà im bặt. Mọi người như đều cúi đầu nhìn xuống :
- Có hòm hả?
- Ừa, một cái hòm nhỏ.
- Sao lại hòm, hòm đâu mà người ta phí như thế, chắc của người khác rồi. Nhỏ chừng bao?
- Dài chưa đầy thước.
- Vậy càng vô lý, nó cao thước tư lận, chẳng lẽ người ta bẻ gập nó lại mà ấn vào quan tài.
Mọi người im lặng, tiếng động dưới hố sâu. Chợt một người ở dưới reo lên :
- Hòm để của... à, một cái đầu nữa, mà có vòng, có đồ sứ...
Người đàn ông từ dưới lên, tay cầm một chiếc đĩa cổ nhoa nhuếch bùn đất, vẻ mặt tưới cười :
- Hên ghê, ai ngờ kiếm được chút cháo...
- Chắc là một cái mộ xưa rồi.
Đám người bàn tán, người đàn bà không khóc, bà ta cũng trụt xuống, lúc sau chị leo lên với một cái đầu lâu. Chị ngắm nghía trước ánh đuốc rồi thả xuống dưới hố. Người ta bàn về giá trị của chiếc vòng ngọc. Tôi ra khỏi công viên... 


4.
Tôi yên tâm khi nhìn thấy có ánh sáng trong căn nhà qua khe cửa. Chắc anh ta chưa đi. Tôi đứng lại gần gõ cánh cửa và chờ đợi. Cánh cửa mở. Một người đàn bà xuất hiện, tôi nhìn vào trong thấy nhà trống trơn, một gia đình đang ngồi quây quần trên tấm chiếu trải giữa nhà bên những gồng gánh, dấu hiệu của một toán người chạy loạn.
- Ông hỏi ai?
- Cái anh ở trước đây đi đâu rồi bà?
- Chúng tôi không biết.
- Gia đình bà mới vào?
- Dạ chúng tôi mới chạy bom đạn vào, mai đi...
- Chào bà...
Tôi bước ra. Không còn nơi cho tôi tạm trú đêm nay. 


5.
Trời chiều, trong cơn vần vũ có những lúc tối sầm lại rồi lại sáng lên, ánh sáng nhạt nhẽo bệnh hoạn, thứ ánh sáng lạnh của một cõi âm.
Sau khi nhận chuông tôi đứng đợi. Người đàn bà trong bộ quần áo ngủ xuất hiện nơi hiên, dáng vẻ bình thản bước xuống sân ra mở cửa.
- Tôi nghĩ ông sẽ trở lại. Dân chúng đã đi gần hết, còn lại ai thì đã lên mặt trận phía bắc... Những người chết cũng nằm lại đó...
Cánh cổng mở ra, lối đi những viên gạch vuông lớn sẫm màu, những khóm hồng già cỗi hai bên, khu vườn bỏ hoang không ai coi sóc. Ngôi nhà cũ ba gian, người đàn bà mở một cánh cửa phía bên rộng ra. Bước vào nhà, nơi gian giữa có kê một bộ tràng kỷ, phía trong bàn thờ che màn màu vàng cũ. Bên trái một bộ ngựa, chắn với phía trong là một chiếc tủ sách lớn. Người đàn bà nói :
- Ông nghỉ ở đây.
Nói xong người đàn bà đi vào phía sau tủ sách. Tôi ngả lưng xuống bộ ngựa nghe lạnh nơi lưng. Mùi ẩm mốc hoang phế như toát ra từ những chiếc cột nhà, ván gỗ, nền gạch nâu. Nơi đây nấm mộ cho một người sống còn tràn đầy sinh lực. Người đàn bà trở lên :
- Ông xuống rửa mặt dùng cơm...
Tôi ngồi dậy mở chiếc xách lấy khăn mặt rồi bước theo người đàn bà. Chiếc thau đồng lớn để trên chiếc ghế đẩu nơi cửa xuống nhà ngang, người đàn bà cầm chiếc ấm rót nước sôi vào chiếc thau khói nóng bốc nghi ngút. Tôi pha nước cho vừa rồi cúi xuống vả lên mặt.
Khi ngồi vào bàn ăn tôi nghe thấy tiếng ho của một người già vẳng ra từ một căn nào đó nơi ngôi nhà ngang. Bữa ăn đơn giản, khi trở lên nhà ngồi nơi bộ tràng kỷ người đàn bà mang lên hai ly trà nóng và ngồi trước mặt tôi vẻ tỉnh táo :
- Mẹ tôi tưởng là anh ấy đã trở về, bà cụ không chịu ăn và nói. Bà nghĩ bà thất bại. Tôi giải thích nhưng bà không tin.
Người đàn bà uống một ngụm nước, với tay cầm gói thuốc của tôi và lấy một điếu châm hút, dáng vẻ thanh lịch gọn gàng. Giọng người đàn bà tâm sự :
- Mẹ tôi muốn tôi lấy một người khác, một người hiện là bác sĩ đã lớn tuổi. Tôi không chịu. Tôi đâu phải là món hàng để mua bán. Mẹ tôi dọa nếu tôi lấy ai khác thì bà cắn lưỡi chết. Bà bằng lòng cho tôi sống độc thân.
Nói hết câu tôi thấy nơi khóe miệng người đàn bà một nụ cười buồn trễ biếng như thách thức. Người đàn bà nhìn tôi :
- Ông đã có gia đình?
- Vâng, tôi có hai cháu, một gái một trai.
- Tôi có nhìn thấy cái nhẫn nơi tay ông, tôi xin lỗi ông...
Tôi cười. Tôi nghe như có tiếng động phía sau tủ. Người đàn bà đứng lên đi nhẹ nhàng vào trong. Những tiếng động rời rạc. Lúc sau tôi mới thấy người đàn bà trở lên.
- Tôi là người con độc nhất trong gia đình này, mẹ tôi ở góa từ năm hai mươi tuổi, năm nay bà năm mươi nhưng có hình dáng của một người gần bảy mươi... Bà muốn tôi được sung sướng theo ý của bà. Tôi tin như thế, nhưng bà không hiểu được tôi muốn sống như thế nào.
Người đàn bà ngừng lại, một nụ cười chua chát :
- Đầu hè trước mẹ tôi đã phang tét đầu một tên ở đây. Ngay chỗ ông ngồi. Hắn ra đây coi thi, hắn xin đến nhà chơi, hắn nói huyên thuyên đủ chuyện, tôi biết hắn tán tôi nhưng tức cười quá đỗi ở chỗ hắn nói dối quá nhiều, hắn làm như hắn tài ba ghê lắm. Tôi biết hắn vợ con đùm đề, thế mà vẫn nói độc thân. Tôi xin lỗi đã.... Mẹ tôi không thích những bạn trai của tôi... ông hiểu.
Tôi lo ngại nhìn người đàn bà :
- Tôi ở lại đây có phiền gì cho bà không?
- Ông yên tâm...
Người đàn bà đi lấy mủng móc trên bộ ngựa cho tôi rồi xuống nhà, trước khi đi xuống tôi thấy người đàn bà đứng lại tần ngần nơi đầu tủ. Sau đó tôi nghe tiếng đóng cửa. Tôi ở lại một mình trên nhà. Trong im lặng tôi nghe thấy tiếng trọng pháo. 


6.
Tôi đứng dậy, thẳng người nói :
- Con ra ngoài đó phải phòng thân, bom đạn bây giờ, nếu con có phần nào thì khổ cha mẹ. Hôm qua cha mới đi tới thăm bác cả, người con lớn của bác ấy mới mất, phải hơn mười ngày quan tài mới đưa về được. Sao người ta chết nhiều quá. Chết, con nhớ là ai cũng phải chết, nhưng sự sống là một cái gì quý giá. Con hãy nghĩ tới lúc con đang nói cười, rồi lúc con nằm im trên giường không thở nữa, rồi người ta bỏ vào quan tài, rồi người ta bỏ xuống huyệt, rồi người ta đổ đất xuống, rồi những ròi bọ, rồi thối đi thịt da, còn lại những xương...
Cha tôi ngồi xuống.
Cha cũng đã già.
Em tôi mặc quần áo trận ngồi cầm ly rượu nhìn lên cười cười.
- Chết có số, em tin thế.
Vợ tôi giữ lấy tay tôi dặn.
- Anh đi xong việc về ngay.
Vợ tôi không khóc thành tiếng nhưng nước mắt chạy quanh trên đôi mắt đỏ hoe.
Con tôi khóc với tay đòi theo.
Chị tôi căn dặn điều này điều khác trong dáng vẻ không bình tĩnh.
Người bạn thân từ mặt trận trở về, vết thương nơi khuôn mặt còn băng trắng.
- Pháo quá, tao tưởng đã chết, tao tin có hàng mấy ngàn người bị giết. Những trẻ em, những bà già... Mày hiểu không. Tao cũng không nghĩ được rằng tao thoát ra được để trở về đây. Mày định nghĩa hộ tao những tiếng như: nhân đạo, bác ái, chính nghĩa, yêu nước, chiến thắng... mày làm được không... 


7.
Tôi thức dậy thấy người đàn bà mình trần ngồi bên, ánh sáng vàng của ngọn đèn ngủ. Mái tóc buông xõa. Giọng bình thản :
- Tôi vẫn muốn hôm nay là đám cưới của chúng tôi.
Tôi nghe lạnh người.
Khi trở ra ngồi nơi tràng kỷ, đốt điếu thuốc trong đêm tôi nghe thấy tiếng nguời đàn bà khóc nhỏ :
- Tôi đã không còn là con gái từ năm mười bốn tuổi. Bây giờ tôi mong có một đứa con...
Tôi trở lại nằm với người đàn bà. Giọng nước mắt buồn thảm :
- Có lần tôi đã suýt giết chết mẹ tôi. Tôi đi chơi về khuya, bà bắt tôi bỏ hết quần áo đứng trước mặt bà, tôi kinh hãi với cái nhìn soi mói tìm kiếm, con mắt như dò tìm những dấu vết. Và da thịt tôi tẽ lạnh đi. Đó cũng là lần thứ nhất tôi nhìn thân thể tôi một cách kỹ càng. Từ đó, mỗi lần tôi thấy ai nhìn tôi, tôi nhớ tới đôi mắt của mẹ tôi...
Tiếng súng nổ đều và xa, trong im lặng tôi nghe rõ tiếng đập của trái tim mình. Tôi thiếp đi trong mệt nhọc.
Buổi sáng, khi thức dậy tôi không còn thấy người đàn bà, cánh cửa vẫn đóng. Qua những khe hở tôi thấy nắng ngoài vườn. Tôi mở cửa ra. Người đàn bà đang dùng cuốc đào một cái hố bên cạnh gốc cây ngâu. Tôi bước xuống hiên, tới gần. Người đàn bà tỉnh táo.
- Mẹ tôi đã chết hồi đêm. Tôi chôn bà trước khi đi.
Tôi im lặng. Không nghe thấy một xao động nào. Màu đất nâu tươi lên với ánh nắng trong vắt sau cơn mưa đêm qua. Nơi một khóm hồng, một bông hồng nở tươi tắn, rực rỡ.
- Ông hãy đi đi.
Giọng người đàn bà hối thúc. Tôi ngồi xuống nơi hiên :
- Bà có cần tôi giúp đỡ.
- Không. Tồi có thể tự lo liệu được. Tôi buồn là trên chuyến bay buổi chiều nay còn một ghế bỏ trống.
Người đàn bà cắm cúi làm việc trong khi nói. Lúc sau người đàn bà ngừng lại, nhìn lên :
- Ông hãy đi khỏi. Tôi không còn muốn thấy ông ở đây. Chúc ông may mắn.
Nàng đi vào phía nhà sau. Tôi lên lấy chiếc xách tay mở rộng cánh cửa trước khi xuống sân. Khi ngang qua khóm hồng, tôi ngắt bông hoa đỏ cài lên túi áo. Tôi ra khỏi khu vườn, theo con đường vắng ra ngoài bờ sông. Trên đường tôi không gặp một ai. Mấy chiếc xe nhà binh chạy với tiếng huyên náo của những người trên xe.
Dòng sông nước xanh lặng lờ chảy. Tiếng súng nghe gần. Tôi cầm bông hồng vứt xuống dòng nước, con nước nhẹ đưa bông hoa về xuôi... Buổi sáng, nắng rực rỡ...

Tiếng động buổi trưa - Dương Nghiễm Mậu


Tiếng động buổi trưa

Người đàn ông uống hết ly nước bỏ chiếc ly nhựa màu cam đã cáu bẩn xuống mặt bàn gỗ thấp, ông ta lấy ra rúm thuốc để trong chiếc hộp sắt đã cũ, vấn một điếu, đưa lên môi thấm nước, cử chỉ nhẹ nhàng thuần thục để làm thành một điếu thuốc gọn gàng trước khi ngậm lên môi. Người đàn bà khoảng ba mươi tuổi im lặng giữ đứa con trong lòng cho nó bú chốc chốc nhìn lên như chờ đợi. Người đàn ông mồi lửa, kéo hơi thuốc thứ nhất chậm chạp, đôi mắt nhăn lại vì khói đặc, ông ta nhìn quanh quất gian nhà, đôi mắt đưa lướt theo hai bức vách cây đóng bằng những ván thùng đủ cỡ, trên đó còn nhiều những vết đinh lớn đã đen lại, những khe hở được dán những miếng giấy báo cắt dài. Ngừng lại một lúc, chừng như ông ta nhìn ra khung cảnh ở bên ngoài cửa sổ, bãi đất trống màu cát trắng nhoa nhuếch với những đống rác đã đốt bỏ lại và đầy những ống bơ đã sét rỉ đen đủi đủ cỡ. Rất xa, phía sau những vồng cát mấy ngọn dương liễu tiêu sơ.
- Chị cho tôi vào coi phía trong chút.
- Dạ, bác tự nhiên.
Người đàn ông im lặng đứng lên, điếu thuốc đang cháy dính trên môi đen ướt, ông ta đi vào, tới khoảng ván ngăn với phía trong ông ngừng lại đưa tay lên sờ vào thân cột gỗ, lần gỗ cũ sù sì không được bào sơn phủ ra ngoài màu xanh nhạt. Khoảng trong ngôi nhà rộng hơn phía ngoài, mái tôn thấp là là xuống phía sau, bức ván trong cùng có nhiều khoảng hở, một cửa nhỏ thông xuống khoảng đất trống phía sau. Trong khoảng sân rộng không quá hai thước được bao lại bởi những cột sắt và kẽm gai, nơi góc, bên những phuy nước có một cây chuối được trồng từ bao giờ vẫn èo oặt với hai tàu lá nhỏ vàng úa như bị hơ vào ngọn lửa. Nơi chân hàng rào có mấy khóm sả lá xanh và cao. Người đàn ông nhìn ra khoảng đất trống phía sau, những vạt đất không đều, nơi đó trước kia là một khu vực dùng chứa những đồ phế thải, nay còn lại mấy khung xe nhà binh đã hư hỏng, mấy chiếc bánh xe bỏ ngổn ngang, mấy chiếc thùng sắt bỏ rải rác, phía sau có một chiếc máy bay trực thăng không còn cánh quạt và gãy ở giữa trông như một con vật thời cổ sử trong hình thù quái đản, màu xám và đen của chiếc máy bay nổi lên khoảng cát trắng. In lên bầu trời nắng gắt những cột gỗ đen đủi trơ vơ. Trở vào, người đàn ông đá mũi giày vào chân vách gỗ, từng miếng gỗ đen mục rụng xuống.
Người đàn ông trở lại ngồi xuống, ngả người ra sau ghế, hút những hơi thuốc cuối cùng. Người đàn bà nhìn lên trong giây phút. Giọng người đàn ông đặc nước miếng nói trong khi cúi xuống dập bỏ diếu thuốc :
- Nhà của chị nát quá, chắc cũng đến ba bốn năm.
- Dạ, năm trước lụt nên hư hao phía dưới, nhà em cũng mới sửa lại...
- Nhà của bà cụ ở phía trên kia còn tốt hơn nhiều.
- Thôi để tùy bác tính cho.
Giọng người đàn bà nhẹ nhưng nhạt nhẽo. Người đàn ông tự rót lấy cho mình một ly nước khác. Hai đứa trẻ từ ngoài đi vào, một đứa ở trần, một đứa mặc chiếc áo trong những bao quần áo cứu trợ. Hai đứa trẻ ngơ ngác nhìn người đàn ông, người đàn bà một lúc rồi xô nhau chạy ra ngoài cùng với tiếng la, thứ tiếng động bỗng nhiên quý hiếm trong không khí im lặng tức thở. Người đàn ông đứng lên kéo vạt áo xuống :
- Thôi để rồi tôi trả lời chị sau chắc cũng chưa gấp gì.
- Dạ thưa bác, kể cũng gấp vì chúng tôi định về trong nội cháu.
- Chào chị.
- Dạ.
Người đàn bà bế con trong tay, đứng lên đưa người đàn ông ra cửa, nắng chói chang, trên quốc lộ, trước mặt hơi nóng như bốc lên oằn oại, khu trại binh phía trước vắng tanh với màu đất đỏ, một chiếc xe nhà binh chạy nhanh với tiếng máy gầm gừ và gian nhà rung chuyển lên trong chốc lát. Người đàn ông lưỡng lự đứng lại trong hiên mát như ngại ngần bước qua những tấm gỗ bắc làm lối đi để ra ngoài quốc lộ.
- Con chó của ai mà ngộ vậy chị.
- Dạ, chó hoang.
Giọng nói của người đàn ông như có đổi khác. Con chó đang thơ thẩn trên mép quốc lộ, màu lông vàng bẩn, mông tóp, lưng hơi cong xuống với cái bụng xệ, nó không bước bình thường mà như hơi nhảy lên, nó chỉ có ba chân, một chân trước bị cụt. Con chó trông đã già nhưng vẫn còn khỏe. Người đàn ông đưa mắt theo dõi con chó đang men theo mép cỏ cháy bên quốc lộ, bỗng nhiên nó nhảy nhanh hơn, phóng mình chạy xuống phía dãy nhà, rồi mất hút :
- Chó có ba chân có thể đưa đi làm xiếc được.
- Dạ, nó dữ lắm.
- Chó hoang mà.
- Lúc trước Mỹ nuôi.
Người đàn ông bỗng nhiên như bị lôi kéo vào câu chuyện của con chó hoang. Người đàn bà đang sửa lại thế bế đứa con. Nắng làm cho đứa nhỏ chói mắt, nó oằn người lên, người đàn bà bế vác nó lên vai cho đứa nhỏ quay vào phía trong nhà.
- Sao nó không mang con chó theo.
- Dạ không rõ. Bây giờ con chó sống quanh quẩn trong khu trại bỏ trống.
- Bây giờ ở đây khác hẳn hồi một năm trước, chị nhỉ.
- Dạ, lúc trước đông vui, làm ăn cũng dễ, bây giờ Mỹ nó đi hết rồi.
Người đàn ông nghĩ tới khung cảnh hơn một năm trước, khu trại binh trước mặt đầy quân đội Mỹ, khu đất trống bên này quốc lộ, xa cách với khu trại binh trở thành một khu đổ rác. Ít lâu sau ở bên những đống rác đó mọc lên những nhà chòi nhỏ che bằng những tấm vải nhựa, trước hết là của những người tới chờ đợt nhặt rác, có những túp lều trở thành quán giải khát bán những lon bia, nước ngọt ướp lạnh để trong những chiếc thùng, có thể thêm những gói kẹo, thuốc lá. Ít lâu sau những túp lều biến thành những ngôi nhà nhỏ có người ở, không bao lâu cả một khu vực trở thành một xóm người đông đảo kéo dài lên mãi phía trên ngả ba. Ngoài những người nhặt đồ phế thải còn có những người buôn bán, những tiệm giặt đồ, bán nước đá cũng bắt đầu làm ăn dễ dàng, số công nhân vào làm trong các khu trại lính gia tăng kéo theo những quán ăn bình dân mọc lên sống nhờ vào đám công nhân. Những ngôi nhà từ những túp lều được bán đi bán lại nhiều lần, những bảng hiệu xanh đỏ xuất hiện, thời kỳ cực thịnh của khu vực bên này quốc lộ được biểu hiện rõ nhất khi có hai quán nước lớn gắn máy hát lôi kéo lính Mỹ tới cười đùa với những cô gái từ xa đến với quần áo xanh đỏ. Người ta sống ở chung quanh đó có một đời sống khác, trẻ con bắt đầu hút thuốc lá, ăn kẹo cao su, chúng biết nói những tiếng Mỹ cần thiết và chạy theo những chiếc xe trên quốc lộ với bàn tay chìa ra, chúng cũng biết chửi tục lớn tiếng, mọi người uống bia hộp, mời nhau bằng những đồ hộp để trong những thùng nước đá. Sinh hoạt những ngày cũ không còn nữa. Những đống rác cao nghệu ngày nào nay chỉ còn những đống than và ngổn ngang những ống bơ không cháy đi được.
- Chắc bọn Mỹ chặt chân con chó?
- Dạ không, con chó bị thương hồi có pháo kích.
- Kỳ vậy...
Người đàn bà cười hồn nhiên, người đàn ông cũng cười. Đứa nhỏ đã ngủ trên vai người đàn bà.
Chiếc hầm trú ẩn trong gian nhà làm bằng những bao tải cát mới được dẹp đi sau này, trong những năm trước nhà nào ở đây cũng có hầm trú ẩn. Có lúc chính chị cũng đã trở thành một người đi làm những bao cát bán cho lính Mỹ ở đồn bên kia quốc lộ, những chiếc xe Mỹ mang theo những chiếc bao không đến, chạy sâu vào trong khu đất bỏ hoang thuê đàn bà trẻ con đổ cát đầy vào trong những chiếc bao rồi cột chặt lại. Ở đây, gần như ai cũng có thể kiếm được việc làm một cách dễ chịu. Hàng đêm mọi người bị đánh thức trở dậy với những loạt đạn pháo kích. Sự đe doạ bỗng trở thành quen thuộc. Mỗi buổi sáng thức dậy người ta kéo nhau đi coi những dấu vết tàn phá, xem có ai chết hay bị thương không, người ta cũng theo dõi những thiệt hại của trại lính Mỹ một cách bình thản. Tiếng đạn pháo kích đến, tiếng súng bắn đi, tiếng máy bay lên xuống, tiếng xe cộ chạy suốt ngày đêm đã khiến cho khu xóm có một bầu khí đầy tiếng động, thứ tiếng động của chiến tranh, thứ tiếng động mệt nhoài, tiếng động như lùa khỏi đầu khối chất lỏng đen để chỉ còn lại một khoảng trống ngu ngơ thờ thẫn biểu lộ trên nét mặt thiếu máu và ngái ngủ. Người đàn bà nhớ lại những ngày đầu cùng chồng đến đây, hai vợ chồng lúi húi trong nhiều ngày, nhiều đêm để mỗi lúc làm cho cái chòi trở thành một ngôi nhà như hiện nay. Trước đó, một lần cả khu nhà mới đã bị vây lại bởi những hàng kẽm gai, những người cảnh sát đã tới đòi họ đi khỏi và dở theo những căn nhà tôn. Chị đã ngồi lại trong căn nhà và khóc trong khi chồng ở phía ngoài không thể vào được, lúc đó chị mới có thai, người chồng mua bánh mì liệng qua hàng rảo vào cho vợ. Những khó khăn đã qua, chị cùng những người khác đã được ở lại làm ăn, những ngôi nhà sang bán mỗi lúc một có giá, những tờ văn tự viết tay giữa hai người với nhau, có những ngôi nhà mỗi lần sang bán người chủ lại phải dở ra từng tờ một, những tờ giấy được viết từ những người đầu tiên, có những người chỉ còn tên gọi trên tờ giấy, người ta không còn biết được mặt mũi ra sao. Một chiếc xe hàng vắng khách chạy nhanh ngoài quốc lộ. Người đàn ông nói :
- Hồi trước tôi có một người bà cô lên chữa bệnh ở trong trại lính này. Họ giỏi thật, bệnh tật bao nhiêu không khỏi, đến lúc về thì mập mạp ra. Mỗi tháng còn phải trở lại để họ khám rồi phát thuốc cho uống... Nhiều người mắc bệnh kinh niên được nhờ lắm.
- Dạ.
Người đàn bà nói nhỏ, chừng như chị muốn cắt đứt câu chuyện. Người đàn ông lần theo hàng hiên đi về phía trên vừa đi vừa ngắm nghía, có lúc ông ta ngừng lại gõ tay vào những vách gỗ, lay động thử một chiếc cột hàng rào. Người đàn bà trở vào nhà, nhẹ nhàng đặt đứa con xuống chiếc giường nhỏ, chưa buông tay, đứa nhỏ đã oằn người, mếu xệch và khóc thành tiếng. Người đàn bà vội vàng bế nó lên, tay vỗ miệng ru, đi quanh quẩn trong khoảng hẹp của căn nhà ngoài. Người đàn bà chợt nhận ra có người đang đi từ phía quốc lộ xuống. Chị ngừng lại nơi cửa. Một người lính xách chiếc mũ sắt nơi tay, tóc rối bù, da mặt đen cháy nhễ nhại mồ hôi, người lính bước lên hiên, dáng dè dặt nhìn về phía đầu nhà.
- Phiền chị cho tôi xin chút nước.
Người lính vừa nói vừa đung đưa cái mũ sắt. Người đàn bà lanh lẹ :
- Anh vô lấy giúp tôi chút.
Người lính bước vào, nhìn vào trong nhà. Người đàn bà nói :
- Nước trong ấm đây anh.
- Dạ không, tôi xin nước lạnh, cái xe nó nóng quá.
Người đàn bà phác một nụ cười :
- Anh xuống phía sau.
Người lính đi xuống phía sau, dáng anh ta ngại ngần, lúc sau anh đi lên với một mũ nước đầy. Anh ta đứng lại nơi cửa nhìn ra nắng ngại ngần, giọng anh bâng quơ :
- Trời nắng chi lạ.
Người lính cúi người ngồi xuống nơi bậc cửa, để chiếc mũ nước một bên, đưa cánh tay lên quệt mồ hôi trên mặt. Anh ta chú ý tới con chó nằm nơi đầu hiên nhà, lưỡi thè ra thở mệt nhọc :
- Chị nuôi con chó ngộ ghê.
Người đàn bà đứng lại nơi cửa nhìn ra chỗ đầu hiên. Con chó trở lại từ lúc nào đang nằm soài người trên đất, hai chân sau ruỗi ra, chân trước để dưới chiếc đầu nằm ép xuống. Chiếc chân cụt lộ hẳn ra một bên thừa thãi, mắt nó nhắm lại hiền lành, cái lưỡi đốm thè ra, rớt rãi chảy nơi hai khóe mõm. Người lính lấy thuốc châm hút, anh ta duỗi hai chân về phía trước phơi đôi giày đã vẹt hết đế, gấu quần sờn rách, những sợi lông chân quăn lại trên lớp da vảy cá sần sùi. Người đàn ông trở lại, ông ta lặng lẽ bước đều đo khoảng rộng của căn nhà rồi ngửng lên nhìn người đàn bà :
- Nhà của chị không được bốn thước, hẹp thua căn nhà đằng kia. Nếu dở xuống cũng không được bao nhiêu gỗ còn xài được - Ông ta nhìn lên mái tôn - tôn cũng hư nhiều quá...
Người lính nói :
- Chị bán nhà này à?
- Dạ, chúng tôi về quê.
- Ừ, bây giờ chị ở đây cũng ghê, đồng không mông quạnh thế này, lại ở bên trại lính...
Người lính bỏ dở câu nói. Người đàn ông đã thấy con chó, ông ta vừa nhìn vừa cười cười :
- Nó lại đây rồi, tôi vừa thấy nó quanh quẩn bên kia.
- Dạ, nó chạy khắp xóm, nhưng tối lại nó ở trong trại lính.
- Tội chưa, chắc nó nhớ chủ nó. Quên sao được, những miếng thịt bò thơm phức, những khúc xương ngoạm không nổi, được tắm rửa, được vuốt ve thì cầm lòng sao được.
Người đàn ông cười thành tiếng lớn vẻ khoái trá với chính điều mình nói. Người lính lặng lẽ hút thuốc nhìn ra nắng. Người đàn bà nói giọng kể :
- Trước kia hằng đêm vùng này bị pháo kích, mỗi lần như thế dân chúng đem những người bị thương lên cửa trại lính, những lính Mỹ ở đấy họ rất sốt sắng, họ băng bó cho những người bị thương nhẹ, cho nằm lại bệnh viện những người bị nặng, có người được đưa thẳng sang Mỹ. Một đêm trong khi bị pháo kích, đạn làm bốc cháy một căn nhà, lính Mỹ đã ùa ra chữa cháy hôm ấy không có ai bị thương. Chỉ có con chó bị mất một bên chân lăn lộn và kêu, một lính Mỹ đã đưa nó vào bệnh viện băng bó, cho thuốc. Một người nẳm trong bệnh viện kể lại, Mỹ nó chữa cho con chó như chữa cho người, con chó lành và nó quanh quẩn ở trong đó, không ra khỏi. Nó là chó hoang nên cũng không ai quan tâm, về sau tôi có lần vào trong đó xin thuốc thấy con chó nằm ngay ở cửa ra vào, thấy người nó vẫy đuôi ra vẻ mừng rỡ, quen thuộc. Ai cũng nói con chó có phúc, chắc có mấy kiếp tu, được chữa lành lại được nuôi sung sướng.
- Bọn Mỹ lạ thật.
- Trời ơi, các ông chưa biết đó. Họ bắt cóc cả người bệnh nữa.
- Thế là làm sao.
- Hồi đó có một ông già ở đây. Ông ta bị bang hay sao đó, bụng lớn như cái thúng, ông ta thường ngồi ở ngã ba xin tiền. Một hôm bỗng nhiên thấy ông ta biến mất, con cháu đi tìm không thấy, có người nói thấy một chiếc xe Mỹ bắt ông ta lên. Có người nói Mỹ nghi ông ta làm mật thám cho giặc, ngồi ở đường để đếm xe qua lại nên bị bắt, có người nói Mỹ nó bắt ông đi triển lãm, có người còn nói hay ông ta bị làm thịt, có người nói Mỹ gì đó ăn thịt người... Ba tháng sau người ta thấy ông già xuất hiện ở ngay ngã ba, lúc bấy giờ người ta mới biết là quả thực Mỹ nó bắt ông ta vào trong nhà thương, sau nó đưa ông ta đi Mỹ vì nhà thương họ không đủ phương tiện chữa cho ông già, ông già trở về khỏe mạnh, cái bụng lớn không còn, nhưng từ đó ông già không thể ngồi mà xin tiền khách bộ hành nữa, ông khỏe rồi, không ai còn cho tiền, ông ta phải làm việc mệt nhọc...
Người lính, người đàn ông cùng phá lên cười. Con chó nghe tiếng động ngóc đầu trở dậy, hai mắt mở lớn, ngậm mõm lại trong giây lát rồi nằm xuống như trước.
Người lính búng mẩu tàn thuốc còn lại trên tay vào con chó, nó nhảy lên, chạy ra phía ngoài xa một chút, nó đứng im trong nắng nhìn người lính.
- Nó dữ lắm, không ai dám trêu nó.
- Một thứ anh hùng độc thủ chứ ít sao.
- Hôm trước họ tìm cách để hạ nó mà không được, nó đã từng cắn một đứa nhỏ bị thương nặng ở mặt. Người ta sợ nó thành tinh, không ai tới gần nó được.
Người lính gật gù, người đàn ông hơi mỉm cười ngắm nghía con chó. Chiếc chân cụt quá cao, lên sát gần mình khiến cho nó có một hình thù lạ.
- Hồi này nó đói nên tiều tụy hẳn.
- Mỹ nó về hết rồi còn đâu nữa mà sung sướng.
Người đàn bà nhìn người đàn ông :
- Thưa bác, bao giờ thì bác cho biết ý được để chúng tôi lo.
- Chị để cho tôi hai bữa.
Người lính nói :
- Chị bán nhà cho ông đây.
- Dạ.
- Tôi tính mua lấy gỗ về làm cái bếp... Anh tính, gỗ mục cả.
Người lính đứng lên, xách lấy mũ nước :
- Thôi chào chị, cám ơn chị.... Chào ông.
- Không có chi.
Người lính đi xuống, bước qua những tấm ván, nắng chói lòa phía ngoài quốc lộ. Con chó bỗng nhiên đuổi theo chồm lên lưng người lính. Người đàn ông, người đàn bà cùng hét lên, đứa bé khóc thét. Người lính liệng chiếc mũ nước lại chạy nhanh rồi ngồi thụp xuống thủ thế. Con chó lùi một chút rồi nhảy vụt qua đầu người lính. Người lính hơi chùn người xuống, quay trở mặt với con chó.
- Nó điên rồi.
Người lính chạy nhanh về phía quốc lộ, con chó đuổi theo người đàn ông cầm vội chiếc gậy đuổi theo, người đàn bà lo lắng trong khi cố gắng nựng đứa con trong tay. Khoảng bụi bốc lên theo sau những bước chạy của người lính và con chó. Người lính nhảy lên xe, con chó chạy quanh, có lúc không còn nhìn thấy, bụi, nắng và màu vàng bẩn của con vật như nhòa với nhau. Một tiếng nổ chát chúa vang lên. Người đàn bà thấy người lính đã nhảy xuống khỏi xe với khẩu súng trên tay, người đàn ông hấp tấp trở vào :
- Coi đạn lạc thì khốn. Anh ta muốn hạ con chó.
Con chó chạy vụt lên dọc theo quốc lộ hướng về trại lính. Người lính đuổi theo, súng trên tay, anh ta ngừng lại trong giây lát, những phát đạn nối tiếp, con chó chạy không quay đầu lại. Không khí khô nóng khó chịu. Người lính không còn đuổi nữa. Anh ta trở lại, đóng cửa xe, đi xuống nhặt chiếc mũ sắt rồi vào trong bóng hiên :
- Con chó thành tinh rồi. Nó trổ ngón hiểm quá.
Người đàn bà nói :
- Anh thật hay, tôi tưởng nó cắn được anh.
- Nguy hiểm, nếu tôi không ngồi xuống kịp...
Người đàn ông cầm chiếc gậy vứt đi, hai tay phủi vào nhau :
- Phải hạ nó, nếu không có lúc nó cán chết người... Tôi về chị.
Người đàn ông quay ra chào người lính rồi đi theo hiên nhà vẻ phía trên, lúc sau người lính thấy ông ta đạp chiếc xe đạp qua quốc lộ, chiếc mũ rộng vành đội trên đầu khi ngang qua chỗ chiếc xe, ông ta giơ tay lên cao ra dấu chào. Người lính mỉm cười vẫy tay theo.
- Con chó nó chạy vào trong trại lính phải không anh?
- Phải, nó khôn quá, nó biết tôi bắn nên chạy chữ chi, không chịu chạy thẳng. Tôi sợ đạn lạc nếu không đâu thoát được tay tôi. Tôi đợi xem nó có dám ra không.
- Nó không ra đâu, anh ơi; hôm trước người ta đã rượt nó một lần nó chạy tọt ngay vào trong ấy, mấy ngày liền tôi không thấy, tưởng nó đi đâu rồi, bỗng một buổi tối tôi nghe thấy tiếng súng nổ, tiếng con chó cắn dữ bên đó, sau mới biết nó cắn mấy người vào trong trại ăn cắp đồ lính canh họ phát giác ra. Có những đêm nghe nó tru lên trong đêm vắng như tiếng ma...
Người lính ngồi nghe chăm chú. Anh ta nói :
- Chồng chị đâu?
- Nhà tôi đi hành quân...
- Chị về ở với gia đình là phải, thời buổi loạn lạc, lúc đêm hôm...
Người lính bỏ lửng câu nói, đứng vụt lên, cầm khẩu súng :
- Nó kia rồi...
Anh ta chạy về phía quốc lộ, cầm ngang khẩu súng, đầu bổ về phía trước, chân đạp về phía sau những đám bụi. Người đàn bà đứng tựa lưng vào thành cửa nhìn theo. Con chó xuất hiện ở phía xa, bên chiếc chòi canh cao, người lính chậm lại, tiếng súng nổ chát chúa, đứa nhỏ giật mình, một tay bấu vào cổ người đàn bà. Người lính đã chạy lên quốc lộ, hơi nắng oằn oại trong khung cảnh trơ trọi màu đất cát nhoa nhuếch và những hàng kẽm gai. Lúc sau người lính khuất dạng, thỉnh thoảng vang lên tiếng súng khô nóng khó chịu...
1972

Sáng mùa xuân - Dương Nghiễm Mậu


Sáng mùa xuân


Mở rộng cánh cửa sổ, tôi bàng hoàng trước những tia nắng rực rỡ tràn vào trong gian phòng nhỏ, nhìn ra ngoài vườn, nắng như nhảy múa trên những tàu lá xanh tươi còn ướt sương đêm, chùm hoa giấy trên hàng giậu tươi như máu. Tôi đứng im nơi cửa cho nắng rọi lên đầu tóc, lên quần áo. Buổi sớm mai của một ngày mới trong mùa xuân. Trong im lặng tôi nghe như có tiếng một con chim lạ lẩn quất nơi mái hiên. Bỗng tôi giật mình vì tiếng động nơi cửa, nhìn ra, một người đàn bà đang đi vào vườn. Lúc sau tôi mới nhận ra đó là một người bạn cũ.
Tôi bước ra cửa và reo lên. Tôi nghe tin chị đã xuất ngoại mà. Người bạn mỉm cười nhìn tôi. Bao nhiêu năm mà tôi trông anh vẫn không thay đổi, vẫn trẻ như ngày nào, chỉ có tôi, tôi già quá rồi phải không anh, anh phải đón nhận tin này: Tôi mới trở thành bà nội được hơn một tháng nay. Tôi thành thực mừng chị. Chúng tôi vào phòng khách, tôi giới thiệu với người bạn cũ vợ tôi và đứa con trai đầu lòng mới được hơn một tuổi. Chị bạn hỏi thăm sức khỏe vợ tôi, bế đứa con tôi lên tay nựng và từ trong xách tay ra một quả chuông nhỏ bằng bạc óng ánh: Quà của bác đây, cháu rung đi. Người bạn rung chiếc chuông bạc kêu lên những tiếng kỳ lạ, những tiếng chuông kết lại với nhau như một điệu nhạc. Con tôi giơ cao chiếc chuông lên đầu và lắc liên hồi, mặt nó lộ vẻ vui sướng. Bỏ thằng nhỏ xuống cho nó chạy trong gian phòng, chị bạn cầm tay vợ tôi nói ân cần. Tôi phải xin lỗi chị, hồi đám cưới tôi biết tin mà đang ở xa, vẫn mong có dịp về, mãi nay mới tới thăm chị được, thật có lỗi. Món quà nhỏ để từ hồi đó tới nay mới mang về tặng chị được. Nói xong người bạn đưa cho vợ tôi một chiếc hộp nhỏ bọc giấy màu. Tôi nhìn bạn, mấy sợi tóc mai đã bạc. Tôi nhìn vợ, niềm vui và cảm động trên đôi mắt đen. Tôi nói em mở quà của chị ra coi. Vợ tôi mở hộp giấy, một chiếc vòng đá xanh. Chị bạn cầm lấy, vợ tôi đưa tay cho chị bạn đeo chiếc vòng vào. Vợ tôi nói: Cám ơn chị - vợ tôi giơ lên đưa về phía tôi, nó xinh quá phải không anh.
Con tôi vẫn rung liên hồi quả chuông bạc, nó chạy vòng quanh trong gian phòng nhỏ, miệng reo mừng. Chúng tôi cũng nhau ngồi uống trà và nói chuyện. Lúc sau chị bạn nói tôi lại rủ anh chị đi thăm một bạn cũ của chúng ta. Tôi nói tôi cũng đang nghĩ tới điều đó. Vợ tôi vì đã có hẹn với một người bạn lại nhà ăn cơm vào buổi trưa nên không đi được. Vợ tôi nói thật tiếc, và quay sang nói với tôi, hay là anh mời cả anh bạn lại, có chị cùng ăn cơm trưa. Tôi nói với chị bạn: Chắc chị không từ chối. Chị bạn cười.
Tôi vào trong nhà thay quần áo, vợ tôi chọn thắt cho tôi chiếc cà-vạt đỏ rực rỡ. Khi ra phòng khách, chị bạn nói trông anh như mới hai mươi tuổi. Tôi và chị bạn ra khỏi nhả, con tôi rung những tiếng chuông reo vui, nó đứng lại nơi ngưỡng cửa vẫy tay gọi theo chúng tôi.
Khi tới nhà người bạn, chiếc quan tài đang được đưa ra khỏi nhà. Ảnh người bạn do người con trai lớn cầm để nơi ngực, tôi nhìn thấy nụ cười tươi tắn yêu đời, và bỗng như tôi nghe thấy tiếng cười sảng khoái của anh những ngày nào. Chị bạn nói: khi tôi ghé lại, anh ấy không nói nữa, anh ấy chỉ mỉm cười với tôi sau đó anh tắt thở một cách thoải mái, như là người ta bắt đầu một giấc ngủ êm đềm. Tôi và chị bạn đi bên nhau sau cỗ quan tài bằng gỗ vàng tâm để mộc, mùi gỗ thơm thân mật. Tôi không nghe thấy một tiếng khóc nào. Những tiếng cầu kinh rì rầm. Tôi nghe vang trong không khí tiếng chuông bạc mà con tôi rung lên vào buổi sớm mai.
Đám tang đi chậm trên con đường có hai hàng cây xanh, thỉnh thoảng chen vào đó những ngọn cây hoa vàng rực, những cánh hoa vàng rụng trải trên mặt đường, tôi nghĩ tới những cánh hoa mai dọc theo một con suối có dòng nước trong xanh.
Anh bạn nói lúc mình nằm trong quan tài mà lại biết có những tên đểu cáng, lừa lọc, những tên mình đã chừa mặt mà đi theo giả bộ khóc mếu, tiếc thương thì có khi phải ngồi dậy mà tộng cho một thụi. Người ta giả dối nhỉ, khóc mếu gì mà bày đặt thế không biết. Phải có một phong tục mới cho tang ma mới phải, phải khóc mà chào đón những đứa trẻ ra đời và phải vui cười, tấu nhạc khi mình nằm vào trong quan tài. Tiếng cười vang lên nghe sảng khoái khác thường, tiếng cười mà chúng tôi vẫn thường nghe thấy trong những lần gặp gỡ. Có phải anh ấy đang cười bọn mình không? Tôi nói với chị bạn. Tôi nghe thấy anh ấy đang đọc thơ.
Đám tang đã vào tới nghĩa trang. Chiếc quan tài được đưa xuống lòng huyệt với hai dải lụa đào tươi thắm. Tôi cầm một cành huệ ném xuống. Chị bạn đứng nơi đầu huyệt cất tiếng hát. Tôi bâng khuâng với tiếng hát đã xa vắng trong bao nhiêu năm trời. Tôi thấy như cây cỏ cũng ngưng sống để nghe tiếng hát đang vút lên. Mọi người vỗ tay khi chị bạn hát hết ca khúc mà trong những năm xưa, khi chúng tôi còn trẻ vẫn thường hát cho nhau nghe, và mỗi chúng tôi có đứa thuộc hết bài, có đứa thuộc một vài đoạn, có đứa chỉ thuộc giai điệu, tôi nói: khi chúng ta chết cả rồi sẽ chẳng còn ai hát những ca khúc đó nữa. Những đứa trẻ ra đời hôm nay sẽ hát những ca khúc mới. Những ca khúc của thời đại chúng. Chị bạn nói vậy phải làm sao? Tôi sợ tới lúc chị không còn, còn một mình tôi... Làm kẻ sống sót, làm kẻ không chết thấy như một bản án, phải thế không chị.
Những nắm đất đang được ném xuống lòng huyệt. Tôi rủ chị bạn đi thăm những người quen nằm trong nghĩa trang, chúng tôi nói với nhau về những ngày tháng cũ... Bao nhiêu người quen nằm cả nơi đây, ai cũng im lặng, bình thản như không có điều gì phải nói nữa... Lúc chúng tôi trở lại với anh bạn, mọi người đã ra về hết. Những mầm cỏ sẽ đang mọc lên. Ra khỏi nghĩa trang tôi nói với chị bạn: Bữa ăn trưa nay của chúng ta dư một chiếc ghế. Tôi nghe thấy giọng tôi buồn bã.
Trên đường về một người đàn bà khoảng ngoài 50 tuổi, có những sợi tóc bạc trước trán. Khi thấy chúng tôi bà reo lên: Tôi đi tìm cậu bây giờ mới gặp. Tôi không biết bà là ai nhưng trong câu chuyện tôi thấy như đó là một người thân mà tôi đã quên tên. Tôi ân hận về điều này. Bà cụ túm tay tôi kéo đi: Thôi đi ngay, người ta chờ cậu từ sáng đến giờ, mọi việc cậu cứ để tôi lo. Bà cụ nhìn tôi từ đầu đến chân rồi quay sang nói với chị bạn: Đẹp trai quá phải không cô, thật là tuyệt đẹp chứ không phải thường. Tôi cười nói: Cụ không thấy tóc tôi bạc rồi sao? Chị bạn nhìn tôi ừ nhỉ, sao tóc anh bạc nhiều thế. Tôi nói: khi vừa sinh ra ông nội tôi tới thăm, ông cụ đã cúi xuống nói chào bạn, như thế chị đủ biết tôi tóc bạc từ bao giờ. Chị bạn nói tôi chưa thấy ai là người lạc quan yêu đời như anh. Tôi nói cám ơn chị. Bà cụ đi giữa chúng tôi nói chuyện chơi hoa lan, bà cụ nói về những lan hiếm quý và mô tả vườn lan của cụ với sự hãnh diện và nói để hôm nào lan nở đều sẽ mời chúng tôi tới uống trà dưới lan. Bà cụ bỗng nói với giọng nghiêm trang: nhưng thực không có gì đẹp bằng người đẹp, hoa đó mới đáng để cho cậu chú ý tới, có những người đẹp mà khi gặp tôi cũng say mê, người đẹp đâu phải nhiều gì. Bà cụ chỉ tay về phía trước: chúng ta sắp tới một vườn hoa rất tuyệt, trong đó chỉ cần một bông hoa mà thôi, tôi nghĩ dù cậu khó tính đến đâu cũng phải hài lòng, liệu cậu có nhớ đường để trở về không. Tôi nói: chắc cụ biết, Từ Thức khi xưa còn biết đường về mà.
Chúng tôi tới trước một tòa lâu đài xinh xắn, ngôi nhà nằm mãi phía trong sau những ngọn cây, những vườn hoa, cánh cửa mở rộng, dù vậy bà cụ không bước vào. Bà cụ nói: hãy đợi có người ra đón. Chúng tôi đứng một chút. Chị bạn nói với tôi: để cho tôi về trước. Tôi nói dạ, mình sẽ gặp nhau chút nữa. Chị bạn chào bà cụ và bước đi.
Một người đàn bà mặc quần áo rực rỡ tươi cười đi từ phía xa lại dừng trước mặt tôi cười nói: tôi nhờ ông cầm giúp cho tôi cái này một chút. Không chờ tôi trả lời, người đàn bà đưa từ tay sang cho tôi một cái hộp lớn như một gói quà tặng, tôi dùng hai tay ôm trước ngực, người đàn bà còn trẻ, đôi môi mọng như hai cánh sen, mắt đen láy, chiếc khăn quàng màu thiên thanh quấn trên tóc rớt xuống đất để lộ ra một mái tóc dài đen như suối, người đàn cúi xuống, tôi nhìn thấy đôi gót chân màu hồng. Mời ông vào, tôi quay lại, một người tớ gái đang mời chúng tôi. Bà cụ cười, chúng tôi cùng bước vào trong vườn. Nhìn xuống thấy mình còn ôm chiếc hộp lởn, tôi hoảng hốt quay lại, không thấy người đàn bà đâu, tôi chạy ra nhìn cũng không thấy đâu nữa. Tôi phân vân trong khi bà đang gọi. Tôi bước theo, tôi thấy người tớ gái như muốn cầm giúp tôi chiếc hộp, tôi đưa ra, cúi đầu, người tớ gái ôm lấy và đi lên phía trước. Cánh cửa rộng mở vào phòng khách, chúng tôi bước vào. Bà cụ nói: Mọi điều cậu cứ để tôi lo, thế nào cũng xong. Chúng tôi được một đôi vợ chồng già tiếp đón niềm nở, lịch sự, chừng như họ đã sửa soạn từ trước, quần áo chỉnh tề, cử chỉ điềm đạm. Bà cụ giới thiệu tôi với ông bà cụ. Tôi thấy ông cụ như chú ý tới cái hộp mà người tớ gái đã để xuống nơi một chiếc bàn thấp. Ngay lúc đó ông cụ cất tiếng gọi vào trong nhà: con gái của cha đâu, ra đây cha bảo. Có tiếng dạ và từ nơi cửa nhà trong, một cô gái xinh đẹp bước ra vẻ thẹn thùng. Ông cụ giới thiệu và nói: đây là con gái rượu của tôi. Cô gái mỉm cười chào tôi và mời tôi đi về phía bên phải của phòng khách rộng, nơi đây có kê một bộ bàn ghế gọn gàng, trong khi ấy ông bà cụ thì mời bà cụ sang bộ bàn ghế kê ở phía bên kia, gian phòng như được ngăn ra bởi một dãy những chậu lan kê trên những cỗ voi bằng sứ. Cô gái hỏi tôi dùng gì. Tôi nói cho uống gì mà cô cũng thích. Hai ly nước cam để trên chiếc bàn nhỏ. Tôi nghe văng vẳng tiếng chuông bạc như rung lên ở đâu đó. Cô gái nói: ông biết mấy người già nói gì với nhau không? Tôi mỉm cười: chắc tôi cũng già rồi. Cô gái nói nhanh: không ông đâu có già. Tôi nói thì cô gọi tôi là ông rồi đó thôi. Cô gái nói: tôi xin lỗi, vậy xin cho gọi là anh. Tôi gật đầu và nói: cô nói những người già nói gì? Họ nói chuyện hôn nhân giống hệt như đi mua trâu bò. Anh biết không, hôm trước ông cụ tôi đã nói với một người: con gái tôi có một tài sản lớn, có khoảng hai trăm lạng vàng... có nhà, có xe hơi... ông cụ muốn mua cho tôi một ông chồng có bằng bác sĩ. Tôi nói nhưng sau đó thì sao? Anh ta chê. Tại sao? Vì tôi nói với anh ta, tôi có người yêu rồi, nói thế anh cũng thấy chưa đủ, anh ta nói không sao, rồi cô sẽ yêu tôi, quên người yêu, tôi nói không phải chỉ có thế, tôi đã có con với người ta rồi. Tới lúc đó anh ta mới thôi và nhìn tôi có vẻ khinh bỉ. Tôi nói: tôi cũng đã có con rồi, con trai. Cô gái cười hỏi: cháu có khá không? Tuyệt diệu. Cô gái gật gù: thích nhỉ, tôi cũng muốn có một đứa con. Nhấp một chút nước cam trên đôi môi không có son, cô gái nói ngả người dựa lưng vào một bên ghế, dáng thoải mái, tự tin nhìn tôi: người mai mối đã nói gi về tôi với anh. Tôi nói, bà cụ nói với tôi ở trong vườn này có một bông hoa rất đẹp. Cô gái cúi mặt không có vẻ gì tỏ lộ. Cô nói anh có nghĩ tiền bạc sẽ mang đến cho người ta hạnh phúc không? Tôi thấy tiền bạc có giúp đỡ cho hạnh phúc. Tiền, vàng, nhà cửa, xe hơi có mang đến một người chồng không? Có chứ, nhưng chưa chắc là người ta yêu... Người ta tới coi mặt tôi, nhưng tôi không tin thế, người ta tới xem tôi có nhiều tiền không, có lợi cho người ta không, bọn người thật giả dối. Tôi uống cạn ly nước, cô có biết là người ta sinh nở rất đau đớn. Đâu có, tôi sinh rồi, tôi thấy rất êm ái.
Trong một lúc im lặng, tôi lắng tai nghe về phía bên kia tôi chỉ nghe thấy những tiếng thì thầm không rõ, nhưng tôi thấy từng lúc những con mắt ở bên đó nhìn sang chúng tôi. Cô gái nói anh có thích nghe một bản nhạc không. Tôi nói rất muốn. Cô gái tới bên chiếc máy và cầm kim thả xuống chiếc đĩa màu hồng. Cô gái nói: anh có hài lòng về tôi không? Tôi không biết phải trả lời thế nào. Cô gái nói tiếp: tôi có ý định ngay sau đám cưới tôi sẽ hiến tặng tất cả của cải của tôi cho một trại cùi. Tôi ngạc nhiên thích thú, ý cô rất hay. Anh không tiếc sao? Người cùi đáng được giúp hơn. Đĩa nhạc đã hết. Cô gái hỏi: anh muốn nghe nữa không? Tôi nói thôi để khi khác. Cô gái nói: không biết anh còn quay trở lại nữa không nhỉ. Tôi đứng lên: cô có biết chuyện Từ Thức không? Cô gái buồn rầu: Từ Thức đã chết rồi, thi sĩ đã chết hết rồi, hoặc tự sát, hoặc bị ám sát anh biết không, người ta thay tim người cả rồi... Cô gái cười lớn, tiếng cười vang động cả gian phòng. Tôi cũng cười theo. Khi ngừng lại tôi thấy những người ở bên kia cũng đang cười lớn, trong khi cô gái đã im và nước mắt giàn giụa. Giọng cô gái lạnh nhạt: tôi cũng sắp thay tim mới. Tôi nói thế còn trái tim của cô? Cô gái hơi mỉm cười: nếu anh muốn tôi sẽ đóng hộp đông lạnh gửi cho anh, không biết tim xào với hành có ngon không?
Bà cụ già đã đứng lên, tôi cũng đứng lên. Cô gái nói: anh về sao? Tôi nghe văng vẳng đâu đây tiếng chuông bạc rung liên hồi. Tôi nói thấp giọng: ở nhà, vợ tôi ru thằng con trai tôi với nhiều câu ca dao, có một câu có lẽ cô không biết, tôi nhắc lại cho cô nghe: con cò mà mổ cái chai; mẹ ơi, mẹ lấy vợ hai cho thầy...
Mấy người lớn đã tới giữa phòng, tôi bước ra, khi sắp xuống hiên tôi đưa tay bắt tay cô gái, tôi thấy hai ông bà cụ có vẻ hài lòng. Tôi cúi chào và bước xuống lối đi trải sỏi trắng. Bà cụ nói: xong việc rồi, cám ơn cậu nhiều lắm. Tôi nói có gì đâu. Giọng bà cụ tâm sự: phải, thằng con tôi nó sẽ hài lòng với người vợ tôi cưới cho nó, nó giống cậu như đúc vậy đó, nó chưa về được, cậu biết, nó bị rớt máy bay nhưng tôi vẫn tin nó còn sống, tháng tới làm đám cưới cậu làm chú rể giúp tôi một lần nữa, nếu nó chưa về kịp trong kỳ trao đổi tù binh này, nhưng tôi tin nó về kịp đám cưới. Cậu... Câu chuyện bị cắt ngang, tiếng gọi trong nhà ra vang động, cô gái hấp tấp vội vã bưng cái hộp lớn ra, nó đã bị mở tung, cô gái đưa về phía tôi: dạ cái này của ông... Tôi nhìn vào trong thấy một đứa bé đang cười. Tôi nói: không phải của tôi. Nét mặt đứa bé bỗng ngơ ngác rồi òa khóc. Bà cụ tới bên nhìn vào ngạc nhiên kêu: trời ơi, cháu tôi đây mà, sao khóc tội nghiệp thế... Ông bà cụ từ trong nhà chạy ra, nhìn đứa trẻ rồi bà cụ ôm ngay lấy: con tôi mà, con tôi mà... Tôi nhìn đứa bé, tôi thấy sao giống người bạn cũ. Đứa bé được bế vào nhà, mọi người bu theo. Tôi đứng lại một mình. Tôi nghe tiếng chuồng bạc reo. Tôi ra khỏi tòa lâu đài về nhà.
Chị bạn tôi đang chơi với con tôi nơi trước cửa nhà, thấy tôi nó reo lên. Bữa ăn đã dọn xong, chúng tôi ngồi vào bàn, một chiếc ghế bỏ trống. Tôi nói với vợ tôi: anh bạn không đến được. Chị bạn nhìn tôi ngậm ngùi: nhìn anh tôi mới biết mình già, cuộc chiến năm mươi năm...
1972

Tiếng sáo người em út - Dương Nghiễm Mậu


Tiếng sáo người em út

Về tới đầu ngõ, người anh cả nghe thấy tiếng sáo, anh nhận ra tiếng sáo của người em út, tiếng sáo không còn thô mộc, non nớt, chập chững những bước đầu đời mà nay tiếng sáo đã chín, âm thanh đã trau chuốt và ở đó nghe một nỗi bồi hồi của tâm sự. Người anh cả đứng im lắng nghe. Bỗng tiếng sáo như reo vui làm người anh nhảy chân sáo bước vào nhà. Cánh cổng nhà mở rộng, vào tới sân người anh cả thấy em mình ngồi dựa cột hiên, đôi mắt như nhắm lại và tiếng sáo vẫn rộn rã. Người anh bước chậm và nhẹ tới hiên nhà rồi ngồi xuống bên. Thật lâu tiếng sáo mới ngừng lại :
- Anh đã về.
Người anh phác một nụ cười :
- Khúc nhạc của em sao hân hoan, anh nghe và thấy lòng vui.
Người em để ống sáo xuống hiên gạch, hai tay khoanh lấy đầu gối :
- Anh về bao giờ lại đi?
Người anh đứng lên, nhìn ra khoảnh vườn nhỏ, mấy cụm hoa cải vàng, mấy trái mướp thả xuống từ cái giàn thấp, giọng nhỏ êm :
- Anh về ở nhà.
Người hàng xóm ló đầu lên khỏi rào dâm bụt :
- Anh út, sao không thổi tiếp, tôi đang nghe... À kìa, anh cả về đó sao?
- Dạ chào bác.
- Từ tối hôm qua tới giờ tôi không sao ngủ được vì tiếng sáo của anh út hóa ra có anh cả về, để chút nữa tôi sang chơi, đi đường xa thì có biết bao nhiêu chuyện...
Người láng giềng thụt xuống. Người anh nói :
- Cha đâu?
- Cha nằm trong nhà.
Người anh đứng dậy, bước lên hiên, mở cửa vào nhà. Bầu khí tĩnh lặng. Người anh từ trong nhà bước ra :
- Cha đang ngủ say, anh không lên tiếng.
Người em đứng dậy gài ống sáo lên hiên nhà, bước xuống sân đi vào nhả ngang. Người anh thơ thẩn trong khoảng sân gạch, vẫn cảnh xưa. Có chăng mái ngói nâu tươi nay đã rêu phong, trên sân giữa những khe gạch đã có chỗ cỏ mọc. Cây mít lớn hơn và tàn cây rộng hơn. Người anh nhớ tới người em gái kế. Người anh đi vào nhà ngang nơi người em đang xúc thóc từ trong cỗ quan tài ra thúng.
- Chị bé đâu em?
Người em đứng thẳng người :
- Chị bé chết ít lâu sau ngày anh đi. Súng nổ từ phía ngoài cánh đồng.
Người anh đứng im.
Người em lặng lẽ tiếp tục xúc thóc ra chiếc thúng rồi bưng đổ vào chum để nơi góc nhà. Mồ hôi đọng trên trán, chảy trên thái dương. Người anh đứng lại bên. Người em bốc một nắm thóc đổ vào lòng bàn tay người anh :
- Anh coi, những hạt thóc có tốt không. Năm nay được mùa nhưng thu hoạch không được bao nhiêu. Đồng ruộng bỏ hoang ai nhìn thấy cũng nghe như dao cắt ruột, cả làng không còn một con trâu. Hôm nấu xôi mới, cha nhắc tới anh và bảo: nếu thằng cả nó ở nhà...
Người anh quay mặt đi, ngắt lời :
- Thôi để mùa sau.
- Mùa sau?
Người em nhắc lại giọng lạnh và buồn.
Những hạt thóc cuối cùng được vét ra khỏi cỗ áo quan. Người anh đổ nắm thóc từ tay này sang tay kia :
- Cha vẫn thường gọi đây là những hạt ngọc. Nhiều khi ngọc cũng không giá trị bằng.
Người em nhìn anh, nụ cười ngậm ngùi. Người anh nhìn em: nó vẫn như xưa chẳng thay đổi gì, lầm lầm lì lì... Người em quét sạch cỗ áo quan, lấy tay kỳ cọ trên lớp sơn bóng rồi gõ vào thành gỗ :
- Gỗ gì không biết, tiếng nó cũng lạ, anh nhớ không?
- Gỗ vàng tâm. Cha đã kỳ công đi tìm nó để sắm áo cho ông nội. Anh nhớ... ông nội nay còn sống thì đã hơn trăm tuổi...
- Anh nghĩ ông nội còn sống?
- Cha đã tìm bao nhiêu nơi, nào có thấy tung tích gì. Tù tội... Có khi xương còn nằm trong một nhà tù nào đấy...
- Anh khéo tưởng tượng.
- Biết đâu đấy.
Người em lấy ra chiếc ruột tượng, màu xanh hoa lý đã nhạt, người em nói :
- Anh nhớ không?
- Chiếc ruột tượng của mẹ.
- Đúng rồi.
Người em gấp một đầu ruột tượng lại rồi mở đầu kia đổ thóc vào một đoạn ngắn rồi gấp đầu thứ hai lại gọn gàng và đặt xuống sau cỗ áo quan :
- Chiếc gối này êm lắm.
Người em sờ tay lên khắp cỗ áo quan, giọng đều đều :
- Sau khi đắp nấm mồ chung cho bốn người, trong đó có chị bé, cha vỗ tay vào cỗ áo quan nói: có sẵn áo quan đây mà nó đâu được nằm, cái số nó thế chịu thôi... Có thời nào mà chết chùm, tan xương nát thịt chẳng còn nhận ra được. Rồi cha nhìn em bảo: không lẽ tao đóng cỗ quan tài này cho mày?
Người anh lặng im lắng nghe. Bao nhiêu cảnh huống của những ngày tháng cũ, khoảng trống những ngày anh vắng mặt :
- Anh nhớ ngày cỗ áo quan được đóng. Còn em?
- Những hình ảnh mơ hồ, lúc ấy anh đã lớn, em còn nhỏ. Từ đó nó ở bên em và những câu chuyện về ông nội do cha kể lại.
Người anh lại gần để tay lên thành cỗ áo quan :
- Hồi đó người ta định xử bắn ông nội. Cha chạy ngược chạy xuôi lo tìm gỗ về cho thợ đóng gấp. Nhưng ông nội không bị xử bắn, người ta kết án chung thân khổ sai, biệt xứ. Ông nội bị đưa đi chẳng bao giờ cha còn thấy mặt. Cha kêu đám thợ mang đi sơn cỗ áo quan rồi được mang vào nhà ngang, nó ở đó từ đó tới nay. Những ngày đầu cỗ áo quan làm cho nhiều người sợ, nhưng dần thành quen thuộc, có khi nó dùng dựng thóc, lúc đựng ngô, lúc nhỏ có lần anh và em nằm trong đó trốn cho chị bé đi tìm...
Người em đứng ở đầu cỗ áo quan, đưa hai tay xuống dưới thử nhấc lên :
- Nặng quá. May mà có anh trở về... Lúc trước có lúc em nghĩ nếu mình chết chắc cha sẽ bỏ mình vào đây, nghĩ thế thấy khiếp quá, bây giờ thì anh đã về và em chưa chết.
- Có khi nào em hay cha cho rằng anh đã chết không?
- Mỗi lần nhắc tới anh, cha tép miệng rồi mỉm cười: nó có còn sống thì cũng như đã chết... Nhưng anh cũng đã trở về, dù sao em cũng mừng bởi vì chỉ một mình em thì làm sao mà tha cỗ áo quan lên nhà trên. Anh giúp em một tay.
Người anh nhíu mày :
- Mang lên làm gì?
- Cho cha nằm.
Người anh lặng đi đôi mắt mở lớn nhìn người em không chớp :
- Cha chết rồi sao?
- Cha đi tối hôm qua...
Người anh vụt bỏ chạy lên nhà trên, tiếng bước chân, tiếng cửa va đập vang động rồi tiếng khóc oằn lên. Người em trở ra hiên nhà lấy cây sáo trúc xuống và bắt đầu thổi một khúc nhạc, âm thanh nhảy nhót tươi vui. Người anh từ trong nhà bước ra, nước mắt ràn rụa. Người em ngừng thổi sáo. Người anh nói giọng khô :
- Cha chết mà em không buồn sao?
- Cha già thì chết, tại sao lại buồn? Anh khóc cha có sống lại không? Anh có hết đau khổ không? Cha nói với em: cả đời không làm điều gì quấy, không có gì phải hối hận, cha nhẹ lòng khi nhắm mắt có con ở bên. Con hãy thổi sáo cho cha nghe... Và em đã thồi sáo từ đêm qua tới giờ. Sống, chết là lẽ bình thường. Ngày tháng và đường xa dạy cho anh những gì?
Người em đưa sáo lên thổi, những âm thanh diu dặt bay lượn như đang quyện vào trong gió chiếm lĩnh cả khoảng không bao la giữa trời và đất. Buổi chiều đang xuống nhẹ nhàng. Đàn chim sâu về kêu ríu rít trên những ngọn cau, trong tàn thấp của cây hoa ngâu. Tiếng chuông thu không vẳng đưa từ xa lại trong buổi chiều tĩnh mịch. Người em hỏi :
- Bao giờ anh lại đi?
- Đi đâu?
- Đi khỏi nhà.
- Em không muốn có anh ở nhà sao?
- Em nghĩ: anh không phải là người để sống ở trong nhà, lại nữa bây giờ cha đã mất... Từ lúc em lớn lên đến nay em thấy có mấy khi anh sống ở nhà... Chị bé đã chết, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đổi thay, anh đâu có sống với những điều đó? Em không nghĩ là có lúc anh trở về... chuyện còn dài. Bây giờ em muốn tẩm liệm cho cha và nhập quan.
Người em đi xuống nhà ngang, người anh bước theo không nói một tiếng. Hai anh em rất khó khăn mới khiêng được cỗ quan tài lên nhà trên. Trước hết người em đốt hai ngọn nến trên bàn thờ rồi đến chỗ cha nằm cầm lên tấm nhiễu điều mở rộng trải vào trong lòng cỗ áo quan. Nhẹ nhàng, cẩn trọng người em bế người cha đặt vào trong cỗ áo quan, đầu gối lên cái ruột tượng nhồi thóc, tấm nhiễu điều được phủ kín lại. Hai anh em nhấc tấm ván thiên lên. Người anh ngừng lại :
- Anh muốn nhìn mặt cha một lần nữa.
Người em để tấm ván thiên xuống. Người anh mở tấm nhiễu nhìn lên mặt người cha mắt đã nhắm lại êm ả, những sợi râu bạc trắng như cước, những nếp nhăn trên trán như những nét khắc trên mặt tượng. Người em nói :
- Cha nói: anh không giống cha, anh giống mẹ. Em nghĩ chắc anh giống ông nội.
Người anh không nói kéo tấm nhiễu lên mặt người cha. Người em nói :
- Em không nghĩ cha chết, cha đang ngủ.
Tấm ván thiên được đậy lại, những con cá gỗ được đặt vào đúng chỗ, người em dùng cái vồ đập vào những con cá gỗ cho tấm ván thiên khít lại. Tiếng vỗ nghe vang dội. Người anh ra ngồi trên bộ ngựa ở gian bên. Người em thắp ba nén hương cắm vào chiếc lư sành. Khói hương nghi ngút. Người em nói :
- Sáng mai đưa cha ra đồng.
- Em không báo cho họ hàng làng xóm?
- Hãy để cho mọi người thêm một đêm yên tĩnh. Bây giờ để em đi nấu cơm ăn.
Người anh ngồi lại ở nhà trên, mùi hương trầm thơm ngát. Ánh sáng vàng tỏa không đều trong ba gian nhà với những thân cột lớn. Người anh đi xuống nhà dưới, người em lấy gạo vào giá mang ra cạnh bể nước ngồi vo rồi đổ vào nồi. Khi người anh bước vào nhà bếp lửa đang cháy hồng, nồi cơm đang sôi. Người em gạt những hạt bỏng gạo trong bếp ra nhặt bỏ vào miệng. Cơm chín, người em lau chiếc mâm gỗ rồi xới ba bát cơm đầy, so ba đôi đũa, múc một chén tương rồi bưng lên nhà trên để nơi chiếc sập giữa nhà trước cỗ quan tài. Đứng trước mâm cơm người em nói :
- Cha kể: xưa có một người con nghèo hèn phải đi làm mướn nuôi thân, ngày giỗ cha không quên chỉ còn biết kiếm một cái bát, múc lấy một bát cám lợn rồi đội lên đầu mà khấn với cha... Cha chỉ mong sau này khi cha đã chết, mỗi lần giỗ nhớ nấu cơm cho ngon, một chén tương, một bìa đậu phụ, thêm ít rau luộc là được, suốt đời cha ăn những thứ đó...
Hai anh em bưng cơm lên, trên mâm còn một bát cơm với đôi đũa để bên. Người anh đưa chén cơm lên miệng, mùi cơm thơm mộc mạc. Người anh chảy nước mắt. Người em nói :
- Sao anh khóc?
- Anh nghĩ tới những ngày xa nhà, lúc về thì cha đã mất...
Người anh để bát cơm xuống mâm. Người em buông dũa và úp cái bát không xuống mâm. Một lúc người em nói với giọng kể đều đều :
- Có một câu chuyện cha kể đi kể lại nhiều lần trong những bữa cơm tối, nó như một câu chuyện khôi hài, để em kể lại cho anh nghe: Một người cha nói với con: để có ăn hãy ra đồng làm ruộng. Người con nói: chắc gì được ăn mà làm. Người con không ra đồng. Người cha kiên nhẫn cày ruộng, gieo mạ, cấy lúa, bón phân, làm cỏ, tát nước cho đến khi lúa chín. Người cha bảo con: lúa chín rồi hãy ra gặt về mà ăn. Người con bảo: gặt về có chắc được ăn không. Và người con không chịu ra đồng gặt lúa. Người cha kiên nhẫn gặt lúa, gánh lúa về, dập lúa, phơi lúa, xay lúa, giã gạo rồi nấu cơm. Khi ngồi xuống ăn cơm, người cha mới hỏi con: đã chắc được ăn chưa? Người con nói: chưa vào miệng thì chưa chắc. Người cha tức giận đứng lên. Thấy người cha nổi giận, người con đứng lên bỏ chạy. Người cha cầm lấy đôi đũa cả đuổi theo. Khi trở về nồi cơm đã bị chó ăn hết. Người con đứng ở ngoài cửa nói: đó đã chắc đâu... Mỗi khi kể tới đó cha cười lớn và nói: cái ông cha này sao nóng giận vô lối. Con hư thì phải dạy còn mình thì thấy cái phải làm thì làm thôi. Mình nhà nông, có làm thì có ăn... Cha mẹ sinh con ai dễ sinh lòng...
Một khoảng im lặng. Người anh nhìn bát cơm đầy để trên mâm, cạnh đôi đũa :
- Em có nghĩ là cha đã không bằng lòng anh?
- Cha nói: anh sống thay cho cha.
Người anh im lặng lúc lâu, người anh nhìn vào mặt người em hỏi :
- Còn em?
Người em bưng bát cơm còn nguyên trên mâm ăn tiếp, lúc đặt bát xuống người em nói :
- Anh về ở nhà luôn?
- Anh không đi đâu nữa.
Người em đứng lên giọng đầy xúc động :
- Anh về rồi thì em đi. Lúc trước còn cha em dù muốn cũng không thể đi được. Ai trông nom cha lúc về già? Anh đi hẳn anh nghĩ rằng ở nhà đã có em, cuối cùng dù thế nào cũng có chỗ để trở về. Bây giờ anh đã trở về và em có thể lên đường ...
Sau bữa cơm tối, người em ra ngồi ngoài đầu hiên nhà lấy ống sáo thổi tiếp, người anh ngồi dựa lưng vào hiên lắng nghe. Đêm qua nhanh. Lúc bình minh vừa hé người em ra khỏi nhà. Lúc mặt trời lên ở ngọn cau thì em trở về cùng những người họ hàng và dân làng. Mọi người bắt tay khiêng cỗ quan tài trên vai đi ra cánh đồng. Không có tiếng khóc. Mọi người nói với nhau về người cha lúc còn sống, những câu chuyện không đầu không đuôi, xen kẽ là những tiếng cười vì câu chuyện cũ. Người em đi lên phía trước vừa đi vừa thổi sáo. Người anh đi phía sau cỗ quan tài. Huyệt đào trên thửa ruộng khô màu đất tươi, cỗ quan tài được đặt xuống và đất được đổ lên. Người anh lấy bó hương rồi cắm lên ngôi mộ mới. Người em ngồi trên một bờ ruộng nhìn về phía chân trời. Mọi người đã ra về. Người anh lại gần người em :
- Bao giờ em đi?
Người em đứng lên :
- Sao anh không giữ em ở lại?
- Em đã lớn, như ngày xưa lúc anh đi, cha đã không nói gì. Đi hay ở là ở nơi em.
Người em ra đứng bên mộ cha để sáo lên môi. Người anh nghe thấy một khúc nhạc bi thiết. Khi nắng đã lên cao, người em cắm ống sáo lên mộ cha rồi cùng trở về với người anh. Người anh nói khi bước chân vào sân nhà :
- Không biết lúc em về thì anh còn sống không?
Người em đứng gần hiên nhà :
- Anh nghĩ em có thể bỏ nơi này mà đi được sao? Ai cũng bỏ đi cả thì ngôi nhà này ai coi, ruộng ai cày và những người như anh lấy đâu nơi để trở về?
Sài Gòn 12/1974

Monday, June 6, 2016

Nguyen Thanh Son

Nhân tiện đang có đà nói về những bọn trí thức lưu manh mình xin nói kèm luôn thêm một người bạn thân, chiến hữu, cánh hẩu của tay luật sư đểu Bảo Anh này. Nói về người này là việc làm rất khó khăn do người đó đã mang tiếng là bạn mình gần 20 năm nay, cũng đã có những lúc tâm sự, chia sẻ việc này việc khác. Mình chưa từng nhờ vả hay được lợi gì từ người này mà tình bạn, nếu có thể gọi là vậy, chỉ dựa trên lịch sử chung chơi với nhau ở Netnam xưa. Người này với mình, ngay từ đầu mình đã biết là không phải bạn lòng mà chỉ là bạn tiện mượn tiếng nhau cho vui. Qua chừng đó năm chơi với nhau tới trước khi bạn chuyển sang làm PR thì nước sông không phạm nước giếng nên cũng không có tranh chấp gì. Thế nhưng từ lúc bạn làm kinh doanh và có lẽ vì việc kinh doanh cần tạo hình ảnh mình thấy bạn càng lúc càng bộc lộ những điều mình không chia sẻ được. Tới gần đây mình thấy những điều bạn nói ra không những mình không chia sẻ được mà còn không chấp nhận được và vì thế mới đây mình đành dứt tình chia tay Nguyễn Thanh Sơn. Sự cơ hội, hám lợi, những lời nói đểu bất chấp kể cả nguyên tắc lập luận chứ chưa kể sự thật của bạn, thái độ trịch thượng của bạn đối với những người có lòng với đất nước, sự hợm hĩnh về thành công trong kinh doanh coi đó là cách duy nhất "đóng góp" cho đất nước trong khi sau bao năm biết bạn mình tin bạn chỉ có một động cơ duy nhất là tiền. Mọi thứ hào hoa, phong nhã, hoành tráng khác bạn vẽ ra cuối cùng cũng chỉ để làm tăng hình ảnh để giúp bạn thủ lợi tốt hơn.
Có nhiều điều mình có thể phàn nàn về bạn nhưng mình chỉ nói một điều làm mình bức xúc nhất đó là thái độ chống Mỹ, khinh Mỹ, kỳ thị Mỹ rất lạ của bạn.
Mình nói thái độ của bạn với Mỹ rất lạ là vì từ lúc mình biết bạn đến nay nguồn gốc của mọi thành công bây giờ của bạn chính là Mỹ. Khi mình quen bạn, bạn nổi tiếng vì làm cho (hay là) đại diện thương mại bang Oklahoma. Ngày đó bạn quý Mỹ lắm và bạn hay đội mũ cao bồi, thắt lưng cao bồi, đi ủng cao bồi mặc quần jeans. Bạn lúc đó hành xử như ông Mỹ con vào cái thời quý Mỹ đang là mốt. Mình lúc đó đã gắn bó nhiều với Mỹ, đã là phiên dịch cho đại biện Mỹ, coi phong cách đó của bạn là thân thiện, dễ gần. Từ đó đến nay bao năm đan xen vào mọi việc kinh doanh của bạn là Mỹ. Những gì bạn kể ra để gây ấn tượng với công chúng đều có liên quan không ít thì nhiều đến Mỹ nhưng lại theo kiểu rất lạ là bạn tỏ ra coi thường Mỹ, giá trị Mỹ, tình cảm Mỹ mà chỉ khai thác những khía cạnh tiêu cực về Mỹ để bạn như đứng vượt lên.
Có một điểm này mình đặc biệt lưu tâm và vì thế mình đưa ra đây công khai nghi ngờ của mình là việc bạn đã học ở Mỹ. Mình không nghi ngờ bạn có thể đã học một khóa ngắn hạn vài tuần hay cùng lắm là vài tháng ở Mỹ khi còn làm cho Oklahoma và trước khi gặp mình nhưng với tư cách là một người rất hiểu hệ thống giáo dục Mỹ mình không tin là bạn đã học một khóa dài hạn, định nghĩa là một năm trở lên, ở Mỹ. Nhưng đây là ấn tượng bạn thường xuyên gửi ra cho mọi người. Bạn hay nhắc đến một ông này nọ là thầy cũ ở Mỹ, về việc từng học xong rồi đi làm, đóng thuế ở Mỹ xong chán cuộc sống đó nên quyết định đi về. Từ những gì mình biết về trình độ của bạn mình khẳng định đây không phải là người đã được nhập học và đào tạo chính thức trong hệ thống giáo dục đại học hay cao học Hoa Kỳ. Nếu bạn chứng minh mình sai và trưng ra được bằng chứng về việc có học tập tại một đại học Hoa Kỳ đủ lâu, vì phải học dài hạn có bằng cấp đàng hoàng người ta mới có lựa chọn được ở lại Mỹ làm việc, và phải làm việc tối thiểu một năm mới phải lo đóng thuế, mình xin bồi thường cho bạn đúng cái bạn thích là 10 nghìn đô. Nếu con số này chưa đủ lớn để bạn có đủ động cơ trưng bằng chứng mình sẵn sàng xem xét mức giá khác mà bạn có thể chấp nhận được.
Nếu không phải bạn đã từng học tập tại Hoa Kỳ dài hạn xin bạn từ nay không tiếp tục đưa ra các quan điểm bài Mỹ, khinh Mỹ, coi thường Mỹ vì việc này tạo ra ấn tượng nguy hiểm cho công chúng, rằng là một người từng ở sâu trong bộ máy Mỹ, hiểu Mỹ như thế mà còn chê Mỹ như thế mà còn chửi Mỹ thì Mỹ đúng là tệ thật. Mình nhắc lại với bạn là thành công của bạn hôm nay, tiền bạc bạn có đều có gốc từ tình cảm thân ái đoàn kết mà các người bạn Mỹ đã mang đến cho bạn. Dư luận viên các bạn nói ông Bob Kerrey lên được Thượng nghị sĩ Mỹ, Thống đốc bang là nhờ vụ thảm sát Thạnh Phong. Bạn đã lên chỗ hiện nay của bạn cũng nhờ Mỹ. Bạn bán hàng được cho các cơ quan chính phủ Việt Nam là vì họ nghĩ bạn có lợi thế với Mỹ. Nước Mỹ làm cho bạn bao việc, cho bạn sự nghiệp, danh tiếng và đủ thứ tốt đẹp khác để bạn luôn luôn nói cái giọng khích động chống Mỹ. Nếu bạn muốn chống Mỹ thì phải nghĩ đến lúc Mỹ chống bạn. Bạn gửi con sang Mỹ học đại học mà vẫn tỏ ra khinh Mỹ thì mình không hiểu đạo đức bạn để đâu.
Mình nhắn gửi lần này rất hiền lành vì nể tình bạn cũ. Nếu bạn muốn gây một cuộc chiến một mất một còn bạn cứ gửi lời qua các bạn chung. Mình sẽ cùng bạn dàn trận ra đánh nhau một trận không nể nang gì, phá tan đời nhau ra đến kiệt quệ thì thôi. Ngược lại, bạn quay đầu lại nói và làm việc tử tế mình sẽ quay mặt đi.