Friday, March 29, 2013

Chẳng nhẽ độc quyền cả nói dối hay sao?








Chúng ta đang chng kiến các cuc tn công vào "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992" và nhng người ghi tên ng h. Chương trình thi s ngày 20/3/2013 ca VTV là mt ví d đin hình. Nó công b kết qu "điu tra s tht" Thái BìnhHà Tĩnh. Ngay trong câu m đu, người xem đã có th nhn ra thái đ ca VTV đi vi bn kiến ngh đó:
"Thưa quý v và các bn, thi gian gn đây, trên mt s trang mng đã xut hin cái gi là Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992 do mt nhóm người son tho và sau đó bn kiến ngh này được cho là đã có nhiu người ký tên ng h, trong đó đông nht là Hà Tĩnh và Thái Bình."
Nếu phng theo phong thái ca VTV thì có th m đu bài đáp l như sau:

Thưa "cái gi là" VTV, "cái gi là Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992" không ch "xut hin" "trên mt s trang mng", mà đã được mt đoàn đi din gm 15 người (không đến ni vô danh) chính thc trao cho ông Lê Minh Thông, là Phó Ch tch y ban Pháp lut ca Quc hi và Phó Trưởng Ban Biên tp d tho sa đi Hiến pháp năm 1992, vào sáng ngày 4/2/2013 ti Văn phòng Quc hi, 37 Hùng Vương, qun Ba Đình, Hà Ni. Đó là mt hot đng công khai, vi tinh thn xây dng và trách nhim cao, hưởng ng đt ly ý kiến nhân dân v d tho sa đi Hiến pháp năm 1992, đang được t chc trên toàn quc. S kin trao kiến ngh y đã được dư lun rt quan tâm và được báo chí "chính thng" đưa tin, ví d như báo Pháp lut Thành ph H Chí Minh và báo Dân trí. Đc bit, báo Người lao đng đã tường thut vi tiêu đ trang trng: "Cơ hi to sc mnh dân tc". VTV không th không biết s kin y, và l ra phi đưa tin đ "phn nh kp thi ý kiến đóng góp ca nhân dân", như đã viết trong Ch th s 22-CT/TW ca B Chính tr Đng Cng sn Vit Nam (ĐCSVN). Thế nhưng, cái ược cho là" "đài truyn hình quc gia" và mang tên là "Đài Truyn hình Vit Nam" li t ra không hay biết, khi đó thì không h đưa tin, và nay li nhc đến mt cách mit th.

Vâng, ta có th tiếp tc phong thái ma mai ca VTV cho đến cui bài. Nhưng thôi, xin chuyn sang li viết thun túy xây dng, vi hy vng giúp h nhn ra hn chế ca mình mà rút kinh nghim, ri c gng hc thêm đ trưởng thành, xng đáng vi nhng đng tin thuế thm đm m hôi và nước mt ca nhân dân, phi b ra nuôi h chi phí cho h hành ngh. Tt nhiên, phi gi thiết rng h thc s cu th thành tâm mun hc hi. Còn nếu ai đó đinh ninh rng mình đã gii và hiu biết hơn người, thì s t hi ca tác phm chc hn bám r sâu trong tâm hn tác gi, khi đó khó lòng mà lay chuyn ni.

Sau đây tôi s dùng đi t "chư v" đ trao đi vi nhng ai tham gia tn công "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992" và nhng người ghi tên ng h, hay tham gia nhng chiến dch tương t đ cn tr tiến trình dân ch hóa xã hi ti Vit Nam. Tc là không ch trao đi riêng vi các v đã làm chương trình thi s 20/3/2013 ca VTV, cũng không ch trao đi vi các v tm biên tp viên hay phóng viên, mà vi c các cp lãnh đo ca h.


1.  Trước hết, đ ngh chư v hãy b chút thi gian xem li nhiu ln đon video lưu tr chương trình thi s 20/3/2013 ca VTV. Hãy nghe tht k ý kiến ca c 5 v, được VTV la chn đ đi din cho nhân dân Thái Bình. Đó là các ông Nguyn Văn Luân (Phó Ch tch y ban Mt trn T quc tnh Thái Bình), Vũ Ngc Ngon (phường Kỳ Bá, thành ph Thái Bình), Quách Thước (phường Trn Lãm, thành ph Thái Bình), Vũ Đình Trích (giáo dân xã Đông Minh, huyn Tin Hi) và Nguyn Văn Chính (Ch tch Mt trn T quc huyn Tin Hi). Chư v có thy mt bng chng bt kỳ nào được h chưng ra hay không? Hoàn toàn không! Hết thy 5 ông, c quan ln dân, đu ch phát biu cm tưởng v mt v vic mà h không h tham d và không h trc tiếp chng kiến. Ví d như ông Vũ Đình Trích thì hùng bin thế này:
"Có bao nhiêu nhng người Ngh An, khi hi đến h thì h không biết gì c, thế mà h li có tên trong cái bn là là là xin là đa nguyên đa đng. Như vy đến khi hi đến h thì h không có biết gì c, vì đy là mt s người ba ra ch không phi là là nhân dân Thái Bình, gn 2 triu nhân dân Thái Bình không bao gi như vy. Đy ch là mt nhóm người ba ra thôi."
Hn cng tác viên ca VTV phi có tài đi mây v gió như Tôn Hành Gi. Va say sưa vãn cnh Ngh An, vèo mt cái đã lượn trên bu tri Thái Bình đ bao quát tình hình toàn tnh. Ông Trích túm ly cái thông tin đã nghe được (có l t thi s VTV) v x Ngh An xa xôi làm bng chng, đ suy din ra tình hình tnh Thái Bình, nơi mà chính ông đang sinh sng. Và thế là đã đ cơ s thc tin đ v giáo dân xã Đông Minh hùng hn kết lun v toàn b nhân dân tnh Thái Bình: "… đy là mt s người ba ra ch không phi là là nhân dân Thái Bình, gn 2 triu nhân dân Thái Bình không bao gi như vy. Đy ch là mt nhóm người ba ra thôi."

Vâng, c biên tp viên Quang Minh ln 5 "nhân chng" đu không h đưa ra được mt bng chng nào c!!! Bng chng thuyết phc không có đã đành, bng chng ngy to ng nghch cũng không có nt! Vy mà VTV li dõng dc tuyên b như sau:
"Cách đây na tháng theo điu tra đc lp ca báo Đi đoàn kết và tiếp đó là Đài Phát thanh và Truyn hình Hà Tĩnh thì hu hết là người nông dân và hơn 100 sinh viên Đi hc Hà Tĩnh ký vào cái gi là Bn kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992 đu là tên gi và không có đa ch. Cách đây 2 ngày phóng viên ca Đài truyn hình Vit Nam đã v Thái Bình đ tìm hiu v s vic nàyđã phát hin ra nhng bng chng v s ngy to này."
Trích đon trên không ch th hin cách hiu kỳ quc ca VTV v cái gi là "bng chng", mà còn phn ánh c phương pháp tác nghip ca VTV khi tìm kiếm "bng chng": Đ chng minh rng hu hết nhng người nông dân và sinh viên Hà Tĩnh ký vào bn kiến nghu là tên gi và không có đa ch", VTV không c phóng viên v Hà Tĩnh, mà li "v Thái Bình đ tìm hiu v s vic này". Qua đó ta thy, không ch biên tp viên Quang Minh, mà c nhng người lãnh đo ông ta cũng chia s tư duy tm ông nông dân Vũ Đình Trích. Ch sáng to ngược chiu thôi: Ông Trích thì dùng thông tin nghe được t phía nam (Ngh An) đ kết lun v tình hình phía bc (Thái Bình), còn chư v thì ngược li, đến phía bc (Thái Bình) đ "tìm hiu" tình hình phía nam (Hà Tĩnh).

Đ b sung "bng chng", VTV phng vn thêm ông T Văn Thin, Ch tch Mt trn T quc tnh Hà Tĩnh, và ông này cũng lp lun tương t:
"Tìm hiu 12 người mà các trang mng cho là công chc ca ngành y tế Hà Tĩnh thì trong đó ch có 2 trong 12 người là thuc công chc ca ngành y tế Hà Tĩnh, còn 10 người là không có đa ch c th và cũng không phi là công chc ca ngành y tế Hà Tĩnh… Tìm hiu 13 người trong s ngành công chc giáo dc mà các trang mng cho là công chc giáo dc Hà Tĩnh thì hu hết là trùng tên và mt tên như vy có th trùng vi hàng trăm, hàng nghìn người trong ngành, không có đa ch c th. Qua nhng vn đ đó thì chúng tôi kết lun vic các trang mng đưa danh sách nhng người dân Hà Tĩnh ký vào cái kiến ngh tp th thì đu là gi mo và ngy to…"
Nghĩa là: Ch mi điu tra 12 cái tên thuc ngành y tế và 13 cái tên thuc ngành giáo dc, trong hoàn cnh "hu hết là trùng tên và mt tên như vy có th trùng vi hàng trăm, hàng nghìn người" "không có đa ch c th", thế mà h đã thy có đ cơ s vng chc đ "kết lun" "trên dưới 1300 người gm đy đ các thành phn, trong đó nhng người làm rung và nông dân chiếm s đông trên 70%", có tên trong "danh sách nhng người dân Hà Tĩnh ký vào cái kiến ngh tp th thì đu là gi mo và ngy to".

Nhng cái tên thông thường, thm chí là "tên gi", và "không có đa ch", ch biết là tnh Thái Bình (có khong 1,8 triu người) và tnh Hà Tĩnh (có khong 1,2 triu người). Vy mà sau mt thi gian cc ngn chư v đã tìm ra được đương s, hoc ít nht cũng tìm ra đa ch, bi l nếu không tìm được thì không th biết đó là "tên gi". V hài kch này được thiết kế bi tm tư duy nào và cho tm tư duy nào vy?

Qu tht, không biết chn t gì lch s hơn là "thm hi" đ ch li tư duy và tác nghip đã được chư v phô din. Điu còn phân vân là nguyên nhân: Không hiu do trình đ quá thp, nên chư v không th t nhn ra s ng nghch ca bn thân và đng nghip, hay vì chư v quá coi thường nhân dân, cho rng chúng tôi ngu ngc đến mc không th phân bit đúng – sai, nên chư v nói gì cũng tin ny?

C coi như vì quá căm thù nhng người ng h "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992", nên chư v mi dng chuyn đ bôi nh h. Nhưng nhng khán gi truyn hình và bn đc cht phác thì ti tình gì, có him khích gì vi chư v, mà li n la h mt cách sng sượng như vy?


2.  Chư v khó chu v vic nhiu tên xut hin trong danh sách "không có đa ch" c th và coi đó là "bng chng v s ngy to". Điu gì s xy ra vi nhng người dân đen "thp c bé hng", nếu h khai rõ ràng đa ch ca mình khi bày t s ng h đi vi mt kiến ngh mà nhà cm quyn rt ghét? Liu sau đó h có th sng yên n hay không? Câu tr li thì ai ai cũng rõ, và chư v còn biết rõ hơn. Vy thì ti sao li đòi hi người dân, khi th hin chính kiến bt đng, phi khai đy đ đa ch ca mình? Phi chăng cái lô-gíc ca chư v thế này: Nếu ngươi không dám công khai đa ch ra đ cho ta… hành h, thì ngươi là đ hèn.

Đòi hi người dân như vy, nhưng chính các tác gi ca trước tác mang tên "S tht đng sau bn kiến ngh sa đi Hiến pháp trên mt s trang mng: S ngy to có ch đích", đăng trên báo Đi đoàn kết ngày 9/3/2013, li không dám khai ra tên tht hay bút danh quen thuc ca mình, mà du mt sau cái tít "Nhóm phóng viên Thi s - Chính tr". Các nhà báo y phng s chính quyn và được chính quyn bo v, mà còn phi nc danh. Vy thì, so vi nhng người dân trn tri trong chế đ chuyên chính, luôn đng trước nguy cơ b tr thù, ai hèn hơn ai?

Đng vi khng đnh rng nếu người ghi tên ng h kiến ngh không ghi rõ đa ch thì không th chp nhn được, vì như vy cũng ging như ph đnh giá tr ca tác phm khi tác gi không công khai đa ch. Cun tiu s ni tiếng "Nhng mu chuyn v đi hot đng ca H Ch tch" là mt ví d đin hình. Cun sách ca ngi Ch tch H Chí Minh này là tác phm duy nht mang tên tác gi Trn Dân Tiên, và ông y không h đ li tung tích. Có ý kiến cho rng Trn Dân Tiên là mt bút danh ca H Chí Minh, nhưng yếu t ph đnh có th tìm thy trong câu sau đây ca cun tiu s:
"Mt người như H Ch tch ca chúng ta, vi đc khiêm tn nhường y và đương lúc b bn bao nhiêu công vic, làm sao có th k li cho tôi nghe bình sinh ca Người được?"
Khi da trên tiên đ v tính khiêm tn ca Ch tch H Chí Minh, ta thy ông không th t ca ngi mình là "khiêm tn nhường y". T đó suy ra: Trn Dân Tiên không phi là H Chí Minh. S vô danh tính ca tác gi Trn Dân Tiên không h cn tr lòng ngưỡng m ca hàng triu người đi vi tác phm, và nó đã được chế đ này trân trng tái bn rt nhiu ln trong sut hơn na thế k qua.

Là nhng người làm vic trong gung máy tuyên giáo ca ĐCSVN, chc hn chư v không th ph đnh giá tr ca tác phm "Nhng mu chuyn v đi hot đng ca H Ch tch", ch vì tác gi ca nó không đ li đa ch. Vy thì ti sao chư v li n ph đnh giá tr ca các ý kiến ng h "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992", ch đương s không công khai đa ch, ging như Trn Dân Tiên?


3.  Chư v rt khó chu v vic xut hin "tên gi", và s dng điu đó đ ph đnh giá tr, không ch ca my biu quyết kèm theo "tên gi", mà ca toàn b danh sách ng h "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992".

T t đã! Hãy nghĩ xem, ai là nhng bc thy trong vic s dng "tên gi"? Đó chính là các bc tin bi ca ĐCSVN! Trong thi gian hot đng bí mt, h luôn luôn s dng bí danh và liên tc thay đi bí danh. Và "bí danh" chng qua là cách gi lch s ca "tên gi" mà thôi!

Ai là người có nhiu bí danh nht? Vâng, chính là nhà cách mng ni tiếng có tên tht là Nguyn Sinh Cung, t là Tt Thành. Ông đã s dng rt nhiu bí danh: Văn Ba (1911), Nguyn Ái Quc (1919), Lý Thy (1924), Lin (1924), Thu Chín (1928), Tng Văn Sơ (1931), H Quang (1938), Già Thu (1941), H Chí Minh (1942)… Không ch trong thi kỳ hot đng bí mt, mà ngay c khi đã làm Ch tch nước Vit Nam Dân ch Cng hòa (nghĩa là khi không còn lo b đch bt), ông vn tiếp tc s dng thêm nhiu bí danh, bút danh mi. Bao năm nay kêu gi nhân dân "hc tp và làm theo", thì bây gi có người "hc tp và làm theo" vic s dng bí danh, sao chư v li bôi nh người ta?

Hãy hình dung ra hoàn cnh chư v đang din thuyết ti mt din đàn ln, vi s tham gia ca hàng trăm, hay c nghìn người xa l. Đ biết có khong bao nhiêu phn trăm c ta chia s quan đim vi mình, chư v đ ngh ai tán thành thì giơ tay lên. Hin nhiên là không th yêu cu hàng trăm người giơ tay phi xưng tên và đa ch, mt mt vì không có đ thi gian, mt khác thì thông tin đó không h quan trng. Nếu chư v tò mò v mt gương mt siêu xinh và hi tên cô gái đó, nhưng cô ta ngượng nghu trước đám đông, không dám khai tên tht là Nguyn Th N, mà ba ra cái tên gi là Nguyn Hng Sen, thì chư v có tìm cách điu tra đ xác đnh đúng hay sai, ri kiên quyết loi b giá tr biu quyết ca cô N, ch vì khai tên gi, hay không?

Gi s có người khai tên gi đ lĩnh thêm vài sut tài tr thì đi mt nh. Đng này, trong hoàn cnh nguy him không kém thi các bc cách mng tin bi hot đng bí mt, nếu ai đó s dng bí danh, không vì v li, mà ch nhm nói lên mt s tht gin đơn, là có thêm mt người ng h "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992", thì có gì là xu xa?

Nhng ý kiến trên chc cũng đ gi ý chư v suy nghĩ li, đ nhn ra nhng sơ h trong mch tư duy và lý lun ca mình. Song điu đáng băn khoăn hơn c không phi là s thiếu hiu biết, mà là tâm lý và đng cơ sâu xa n khut sau hành đng ca chư v, mà tôi s trình bày trong hai phn còn li.


4.  Khi chương trình thi s ngày 20/3/2013 ca VTV phát sóng thì Danh sách người kiến ngh sa đi Hiến pháp 1992 có chưa đến 10.400 người, nghĩa là ch chiếm khong 0,01% (mt phn vn) dân s Vit Nam. 0,01% là mt t l rt rt nh. Dù có nhân lên 100 ln thì cũng mi ch là 1%, vn còn rt nh. Trong mt đt nước văn minh, nếu b phiếu v mt vn đ gì đó mà ch có 10% phn đi thì đã được coi là thành công rc r. Còn nếu ch có 1% phn đi thì đã là chuyn… "không tưởng". chế đ này, khi mi ch có 0,01% dân s th hin chính kiến khác, thì chư v đã cung lên, phn ng quá hong lon, mt c khôn. Điu đó nói lên cái gì?

Phi chăng chư v không th chp nhn được vic có 0,01% dân s nghĩ khác mình?
Phi chăng đó chính là biu hin ca s đc quyn tuyt đi v tư tưởng?


5.  Chương trình thi s ngày 20/3/2013 ca VTV đã gán cho vic ghi tên ng h "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992" mt lot đng t xu xa: "ngy to", "mo danh", "ba ra", "gi mo". Đ cho gn, xin gói chung chúng trong mt đng t đơn gin là "nói di".

Tht ra, nếu có điu gì không chính xác trong danh sách nhng người ng h "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992" thì cũng là l thường tình. Không th loi tr nhng trường hp c tình khai báo sai, do k xu ch đng to ra đ ly c bôi nh, hay nhng k nghch ngm bày trò đ tiêu khin. Nhng người đng ra giúp tng hp chkhông th điu tra, không th xác minh, đ đm bo tính chính xác ca tên người và đa ch. Mt mt, h không có đ nhân lc, thi gian và tin bc. Mt khác, nếu h v các đa phương đ xác minh thì s b chính quyn quy cho ti đi kích đng nhân dân chng phá chế đ… Có người đ xut là ch chp nhn đăng ký ca nhng người ghi đy đ đa ch. Điu đó không giúp ích được gì, vì cũng không th đi xác minh xem tên và đa ch là đúng hay sai. Ngược li s có hi, vì nhng người s b tr thù s không giám ghi tên na, và nhng k c tình phá hoi có th ch đng sinh ra tên sai ti đa ch có tht, đ d b "xác minh" và t cáo.

Cho nên, nếu VTV, hay báo Đi đoàn kết, hay bt c cơ quan nào trong gung máy tuyên truyn khng l, phát hin ra thông tin không chính xác trong Danh sách người kiến ngh sa đi Hiến pháp 1992, thì cũng chng có gì đáng ngc nhiên. Bun mt ni, chưa tìm ra bng chng c th nào, mà vn dõng dc tuyên b "đã phát hin ra nhng bng chng v s ngy to".

L ra, đã tiêu tn tin thuế ca nhân dân cho chuyến công v điu tra, thì cũng phi chu khó làm được chút gì đó. Đng này li lười, mun thanh toán công tác phí nhưng li ngi đ m hôi, đến ngy to ra "bng chng v s ngy to" cũng không làm ni. Trong dân gian thường có câu "ăn gian – nói di", còn làm ăn như chư v thì là ến nói di cũng còn ăn gian".

C tm coi nghi ng ca chư v v hin tượng "nói di" trong Danh sách người kiến ngh sa đi Hiến pháp 1992 là có cơ s đi. Nhưng điu đó có đáng đ chư v phi tc tc đi điu tra hay không? "Nói di" có phi là chuyn xa l và t hi đến mc chư v phi t chc chiến dch lên án hay không?

Có th d dàng tr li câu hi va ri, nếu chư v chu khó ôn li mt s s kin lch s. Ví d: Vic Đng Cng sn Đông Dương tuyên b "t gii tán" ngày 11-11-1945, nhưng thc cht là rút vào hot đng bí mt và vn gi vng vai trò lãnh đo chính quyn; vic tuyên b ngng bn đ nhân dân yên n ăn tết Mu Thân 1968, nhưng đng thi li t chc tn công đng lot trên toàn min Nam; vic công b ngày qua đi ca Ch tch H Chí Minh là 3/9/1969 (mun đi môt ngày so vi thc tế)… Có rt nhiu dn chng lch s như thế. Nhưng thôi, ta hãy tp trung vào mt s ví d mang tính thi s.

Ghi vào Hiến pháp 1992 đ th mĩ miu, nhưng trên thc tế thì hành đng hoàn toàn ngược li.
"Tt c quyn lc Nhà nước thuc v nhân dân…" (Điu 2, Hiến pháp 1992)
Thế nhưng ĐCSVN li chiếm hết tt c quyn lc, còn nhân dân thì buc phi chp nhn mi s la chn và quyết đnh ca đng.
"Công dân, không phân bit dân tc, nam n, thành phn xã hi, tín ngưỡng, tôn giáo, trình đ văn hoá, ngh nghip, thi hn cư trú, … đ hai mươi mt tui tr lên đu có quyn ng c vào Quc hi, Hi đng nhân dân theo quy đnh ca pháp lut." (Điu 54, Hiến pháp 1992)
Thế nhưng hu hết nhng người t ra ng c đu b cn tr thô bo, đến mc buc phi rút lui.
"Công dân có quyn t do ngôn lun, t do báo chí; có quyn được thông tin; có quyn hi hp, lp hi, biu tình theo quy đnh ca pháp lut." (Điu 69, Hiến pháp 1992)
Thế nhưng tt c các quyn k trên đu không được nhà cm quyn chp nhn trên thc tế. Thm chí, nhiu người c gng thc thi các quyn hiến đnh đó đã b trn áp, b giam vào tù.
"Nhng nơi th t ca các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp lut bo h." (Điu 70, Hiến pháp 1992)
Thế nhưng đt ca nhà th vn b chiếm gi

Kêu gi nhân dân góp ý sa đi Hiến pháp 1992, thm chí tuyên b rng:
Nhưng khi có ý kiến góp ý "trái chiu" thì li quy chp là "suy thoái tư tưởng chính tr, đo đc, li sng", là chng đng, chng chế đ

Gi là ly ý kiến dân ch rng khp trong nhân dân, nhưng li áp dng nhng th đon s trường đ ép người dân phi ghi rõ là ng ý", khi chưa kp đc D tho sa đi Hiến pháp 1992.

My chc năm nay, luôn khng đnh rng tiến lên ch nghĩa xã hi là nguyn vng ca nhân dân, và vic duy trì Điu 4 trong Hiến pháp cũng là s la chn ca nhân dân. Nhưng căn c vào đâu mà nói liu như vy? Đã bao gi t chc trưng cu dân ý đ toàn th nhân dân bày t nguyn vng và nêu ra la chn ca mình đâu? Không phi nhà cm quyn ng nhn ý dân, mà có l h còn cho rng đa s nhân dân nghĩ ngược li. Vì sao ư? Gi s đa s c tri (ch cn 51% thôi) ng h duy trì Điu 4, tc là duy trì quyn lãnh đo đương nhiên ca ĐCSVN, thì k c trong hoàn cnh tng tuyn c tuyt đi t do và ĐCSVN chưa cn phi áp dng các mo s trường, chc chn ĐCSVN vn thng c, và do đó được đóng vai trò lãnh đo Nhà nước và xã hi mt cách chính đáng. Chính vì vy, khi lãnh đo ĐCSVN khng đnh rng "b Điu 4 là t sát", thì có nghĩa h cho rng ít nht là 50% c tri không ng h vic ĐCSVN duy trì quyn lãnh đo. Đơn gin là vy!

Nhng s vic k trên không phi là nói di hay sao? Chư v có đnh lên án hay không?

Phi chăng chư v s lnh, vi lý do là nhng vic đó thuc kênh khác, không phi là "kênh tuyên giáo" ca chư v? Cũng chng cn chư v phi gánh trách nhim thay cho người khác đâu, bi vì "kênh tuyên giáo" chính là nơi nói di nhiu nht. Đến ni nhiu người c đến bui thi s thì li tt TV, hoc chuyn sang kênh khác, đ khi phi đau đu vi nhng điu gi di. Hin nay, hàng ngày chư v tuyên truyn trên TV và đài báo v s ng h tuyt đi ca nhân dân đi vi nhng điu được coi là "nhy cm" trong D tho sa đi Hiến pháp 1992, ví d như duy trì vic hiến đnh quyn lãnh đo đương nhiên ca ĐCSVN, không chp nhn s hu tư nhân v đt đai, lc lượng vũ trang trước hết phi trung thành vi ĐCSVN, ri sau đó mi đến T quc và Nhân dân…  Hn chư v cũng t biết là mình đang nói di. Chư v tung ra "bng chng điu tra" đ bôi nh "Kiến ngh v sa đi Hiến pháp năm 1992", nhưng như đã ch ra trong phn 1: Chư v đã nói di!

Người dân không h ngc nhiên, bi đã quen dn vi điu đó, và đã mc nhiên tha nhn rng: Nói di là bn năng và bin pháp nghip v ca gung máy tuyên truyn.

Điu khiến dân tình khó hiu là: Ti sao nhng người thường xuyên nói di li lao vào điu tra, ri phn ng rt cc đoan, khi cho rng có hin tượng nói di trong Danh sách người kiến ngh sa đi Hiến pháp 1992?

So vi vic không h điu tra ý dân trên toàn quc, mà vn khng đnh rng s đc quyn lãnh đo ca ĐCSVN, chế đ đc đng và ch nghĩa xã hi đu là ý nguyn ca nhân dân Vit Nam, t đó bt buc c Dân tc phi chp nhn trng thái y, thì s ngy to – nếu có – trong Danh sách người kiến ngh sa đi Hiến pháp 1992 có thm tháp gì đâu?

Bn thân thì nói di tràn lan, vy ti sao li m c khi cho rng có người dân nào đó cũng nói di?
Chng nh chư v mun đc quyn c nói di hay sao?


Hà Ni, 27/03/2013
 Bài gc đây




Góp Ý Dự Thảo Hiến Pháp

Hồ Đức Yên

Tường thuật góp ý Hiến pháp của CLB Truyền thống kháng chiến – Khối Thanh niên, TP HCM

Ngày 6.3, tại Bảo tàng cách mạng TP.HCM, Khối Thanh niên thuộc Câu lạc bộ Truyền thống kháng chiến đã tổ chức góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Trong phần chương trình, hội nghị đã nghe ông Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội giới thiệu tóm tắt Kiến nghị 7 điểmcủa Nhóm 72 trí thức:

Quyền lập hiến phải thuộc về toàn dân, không thể thuộc về bất kỳ một tổ chức hay cơ quan nào;

Lời nói đầu không phải là chỗ để tuyên dương công trạng của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào; sửa Dự thảo theo đúng tinh thần của Tuyên ngôn về Quyền Con người năm 1948 và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia;

Sở hữu tư nhân, tập thể, cộng đồng về đất đai cùng tồn tại với sở hữu nhà nước; các cơ quan nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp và luật;

Thành lập Tòa án Hiến pháp với chức năng phán quyết;

Lực lượng vũ trang trung thành với Tổ quốc và nhân dân, không trung thành với bất kỳ tổ chức nào (yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam);

Phải có trưng cầu dân ý để phúc quyết Hiến pháp;

Và cuối cùng là gia hạn thời gian lấy ý kiến của nhân dân đến hết năm 2013.

Đường lối của Đảng phải minh bạch

Nếu mở đầu cho chương trình là bản góp ý của ông Nguyễn Văn Thuyền, nguyên Thường vụ Thành ủy, Chủ nhiệm CLB Kháng chiến TP.HCM, (do tuổi cao không tham dự, được đọc lại tại hội nghị) với tinh thần chủ yếu là sự cần thiết của điều 4 trong Hiến pháp, cùng câu hỏi gay gắt “ai là kẻ mưu toan dẹp bỏ điều 4”, thì ngay sau đó là các ý kiến đầy tâm huyết thể hiện xu hướng ngược lại.

Đặt vấn đề nên hay không nên có điều 4, luật sư Nguyễn Đăng Liêm, nguyên Hiệu trưởng Đại học Gia Định cho rằng: Hiến pháp không thể tự định trước cái quyền Đảng Cộng sản “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” được. Hiến pháp “khẳng định ý chí của nhân dân” thì trước hết Đảng phải được nhân dân trao quyền lãnh đạo. Nhưng vấn đề là nhân dân có trao quyền đó hay không? Trong khí hoạt động của Đảng thời gian qua không đảm bảo công khai, minh bạch; nhiều đường lối, chính sách và thực hiện chính sách không của dân, vì dân đã dẫn đến sai lầm, yếu kém, tiêu cực và đặc biệt là tham nhũng trầm trọng.

Tình trạng đó có nguyên nhân là người dân không được thực sự làm chủ, hoặc hơn thế là quyền làm chủ của nhân dân bị vi phạm. Vì vậy, Điều 6 viết: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” là không thể. Bởi Quốc hội, Hội đồng nhân dân cũng chỉ là “cánh tay nối dài của Đảng”. Đó là chưa kể nhiều những văn bản dưới luật được thực thi đã vi phạm Hiến pháp. Với tổ chức để người dân “thực hiện quyền dân chủ trực tiếp đại diện” như thế thì làm sao “giám sát” được Đảng và lấy gì để “buộc” Đảng phải “chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”? (Điều 4, Khoản 2).

Tán thành với quan điểm của ông Nguyễn Đăng Liêm, ông Lê Công Giàu, nguyên Phó bí thư Thành đoàn TP.HCM, đã đưa ra một lập luận đầy tính nhân văn. Theo ông, những tổ chức là “cánh tay nối dài của Đảng” thì không thể phản biện được Đảng. Trước đây, Bác Hồ đã đề ra hai Đảng Xã hội và Dân chủ; tất nhiên là hai đảng này không cạnh tranh nổi với Đảng Cộng sản, nhưng ít nhất cũng là tổ chức phản biện trong Quốc hội đối với đường lối của Đảng Cộng sản. Hiện về danh nghĩa chúng ta có hệ thống kiểm soát quyền lực, nhưng trên thực tế hệ thống kiểm soát này không thể kiểm soát được. Có thể ví đây là một cái thắng (phanh) lúc ăn lúc không, thậm chí có lúc chạy tuột luôn. Thử hỏi, các đồng chí ngồi trên xe máy không có thắng, liệu có dám chạy không? Vậy mà hiện nay con tàu ViệtNamvới tám mươi sáu triệu dân phải ngồi trên một hệ thống thắng không ăn, đang tuột dốc với tốc độ cao, cực kỳ nguy hiểm. Thắng không ăn đồng nghĩa với hệ thống kiểm soát quyền lực bị vô hiệu, đã dẫn đến hư hỏng không thể sửa được. Hãy thử nhìn ra các nước, chỉ với 30 năm họ đã là một nước công nghiệp hóa, dân chủ, tự do. Còn Việt Nam ta kể từ khi có Đảng đã hơn 80 năm, có chính quyền gần 70 năm và giải phóng cũng gần 40 năm mà vẫn lạc hậu. Điều đó có nghĩa là đường lối của Đảng không còn phù hợp nữa, phải thay đổi.

“Nói Đảng nhưng thực chất là các vị trong Bộ Chính trị và một trăm bảy mươi mấy vị ủy viên Trung ương lãnh đạo đất nước và quyết định thể chế chính trị. Vậy bây giờ mấy vị này phải đề ra giải pháp đường lối đưa đất nước đi lên. Nếu không được là có tội với dân tộc. Nếu không được thì phải chấp nhận đa đảng”. Ông Lê Công Giàu nói.

“Phải dứt khoát bỏ tất cả các cụm từ xã hội chủ nghĩa”

Đó là một trong hai quan điểm khẳng định “dứt khoát” của ông Hồ Hiếu, nguyên cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, TP.HCM. Thứ nhất, tên nước không thể kèm theo ý thích của một số người theo chủ nghĩa này, không theo chủ nghĩa kia; hay là theo cái đạo này, bỏ cái đạo khác. Đó là chưa kể xã hội chủ nghĩa là chưa có thật, rất xa với và không biết bao giờ sẽ có. Đặt tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa là người cộng sản đã lạm quyền. Đề nghị lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cái tên do CT Hồ Chí Minh khai sinh.

Tên gọi “xã hội chủ nghĩa” như cái vòng kim cô. Vì cái vòng kim cô xã hội chủ nghĩa duy ý chí này nên nhà đất sai không sửa, giáo dục kém không sửa; rồi kéo theo hàng loạt chính sách không hoàn chỉnh mang tên xã hội chủ nghĩa: pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, y tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế… đã thị trường lại còn định hướng xã hội chủ nghĩa… Cái chữ “xã hội chủ nghĩa” đó chia rẽ dân tộc trong nước và nước ngoài, chia rẽ cộng đồng thế giới. Thứ hai, theo, ông Hồ Hiếu là “dứt khoát phải xóa hẳn đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Toàn dân là ai? Ai tên là “toàn dân”. Nhà nước quản lý mà trên là Đảng lãnh đạo thì đất đai là của Đảng, của Nhà nước mất rồi. Nhà nước quản lý nghĩa là muốn thu hồi là thu hồi, muốn cưỡng đoạt, định giá là cưỡng đoạt, định giá. Và như vậy thì vẫn xảy ra tình trạng như thời gian vừa qua, chính sách về ruộng đất và thực thi chính sách này không minh bạch, dẫn đến khiếu kiện đất đai kéo dài không dứt…

Đảng nên bình tĩnh và xem lại mình

Ông Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng phản ánh một thực trạng bức xúc, đó là tình hình đất nước đang rất khó khăn với bao âu lo, nhưng Đảng và dân mỗi người lo một cách khác nhau. Đảng lo giữ gìn thể chế, sự tồn vong của chế độ; dân lo đời sống khó khăn, kinh tế sa sút, tham nhũng trầm trọng… Dân và Đảng không gặp nhau, không còn đâu là ý Đảng, lòng dân. Ông Ngãi đề xuất: “Hiện, đang có góp ý Hiến pháp của 72 trí thức (gọi tắt là Kiến nghị 72 – đã có hơn 9.000 người ký tên) với Kiến nghị 7 điểm đúng đắn. Vì vậy, Đảng nên gặp gỡ để bàn bạc trao đổi, sửa Hiến pháp theo tinh thần của các kiến nghị nêu trên nhằm phát huy dân chủ và hoà hợp dân tộc là những đòi hỏi hết sức bức xúc của nhân dân trong giai đoạn trước mắt, cũng như cho sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước”.

Từ ý nghĩa này, ông Võ Văn Thôn, nguyên Chủ tịch UBND Q3, Giám đốc Sở Tư pháp đề xuất, góp ý Hiến pháp là việc hệ trọng, Đảng nên hết sự bình tĩnh, lắng nghe. Đã có chủ trương đúng đắn “góp ý không có vùng cấm”, vậy đề nghị Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội, cũng như báo chí, đài truyền hình của Đảng không nên lên án, đả kích những góp ý trái chiều.

Hội nghị cũng thu được nhiều ý kiến sắc bén qua các nội dung: Công chức nhà nước ở các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp… đều ăn lương do dân đóng góp. Bộ máy Nhà nước của dân phải phục vụ nhân dân, đương nhiên phải phi chính trị hóa, kể cả công an, quân đội. Phải có tòa án bảo vệ Hiến pháp, ngay đến Hiến pháp 92 cũng có những cái hay, cái đúng nhưng thường bị các nghị định, nghị quyết sai vô hiệu hoặc đi ngược lại với Hiến pháp. Lập hiến (xây dựng, ban hành hay sửa đổi hiến pháp) là quyền của nhân dân, nhưng với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 này thì vẫn là do Đảng lập, Đảng soạn. Vì vậy phải viết lại Hiến pháp…

Hội nghị sôi nổi trong suốt bốn tiếng đồng hồ. Ngay cả bên lề, cũng có những ý kiến xác đáng, ấy là: Góp ý hiến pháp không được báo đài phản ánh trung thực. Một buổi như hôm nay chẳng hạn, chỉ có hai ý kiến đồng ý Điều 4, chín ý kiến đề nghị bỏ Điều 4, nhưng lại sẽ tường thuật “Hầu hết ý kiến khẳng định cần có Điều 4 trong Hiến pháp”!

Thứ tư, ngày 27 tháng ba năm 2013

H.Đ.Y.

Tuesday, December 13, 2011

Bốn đời tổng thống với bình thường hóa bang giao Việt - Mỹ


"Phía Việt Nam đã phạm sai lầm, ít ra là trong năm 1977, khi cố yêu cầu phía Mỹ thực hiện điều 21 của Hiệp định Paris, bởi vì hiệp định này đã bị cả hai phía Việt Nam vi phạm. Vì vậy, không đời nào quốc hội Mỹ chấp nhận chuyện này. Và đòi hỏi của phía Việt Nam, trong nửa nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Jimmy Carter, đã tạo cớ cho những người muốn chống lại bình thường hoá bang giao Mỹ - Việt" - Cựu Đại tá Lục quân Andre Sauvageot. 

LTS: Năm 1964, có một đại uý trẻ của Lục quân Mỹ được cử sang Việt Nam với vai trò cố vấn cho một quận trưởng của Chế độ Việt Nam Cộng hoà.

Chín năm sau, khi Hiệp định Paris được ký kết, viên sĩ quan Mỹ này kiên quyết từ chối kéo dài sự phục vụ của mình ở Việt Nam, mặc dù, anh ta vẫn tiếp tục ở lại trong quân đội với một vai trò khác - sĩ quan huấn luyện tại một trung tâm huấn luyện ở Mỹ. Lý do viên sĩ quan này đưa ra là sự "cố đấm ăn xôi" của người Mỹ ở Việt Nam là vô nghĩa, và sự ủng hộ và kỳ vọng của Chính quyền Washington đối với Chế độ Việt Nam Cộng Hoà là không có cơ sở!.
Đó là Andre Sauvageot.

Người sĩ quan trẻ tuổi này sang Việt Nam với hai niềm tin. Thứ nhất là bổn phận của một người lính là phải sẵn sàng ra trận vì Tổ quốc. Thứ hai là ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản ra toàn Việt Nam và Đông Nam Á!

Andre trở về Mỹ với một niềm tin bị đánh mất. "Chính quyền Mỹ lúc đó đã nói dối nhân dân Mỹ và những người lính như chúng tôi về nguy cơ bành trướng của những người cộng sản Bắc Việt, hoặc, họ đã nói dối cả chính mình", Andre nhận định.

Với nhận thức như vậy, Andre đã cố gắng góp sức mình vào việc hàn gắn và phát triển quan hệ giữa hai nước, từ vị trí chuyên viên Bộ Quốc phòng, Ngoại giao..., đến cương vị một nhà kinh doanh. Từ vị trí một phiên dịch xuất sắc cho các cuộc đàm phán quan trọng giữa hai phía về bình thường hoá, đến một chuyên gia phân tích chính trị sắc sảo.
Cựu Thứ trưởng Lê Văn Bàng, người đã khuyên Andre nên nhận lời mời của General Electric làm trưởng đại diện cho họ tại Việt Nam đầu năm 1993, để có cơ hội đóng góp vào việc cải thiện quan hệ giữa hai nước, đã nhận xét:

"Có những lúc, cuộc tranh luận về vấn đề POW/MIA, vào cuối những năm  '80 rất căng thẳng, hai bên không thoả thuận được với nhau. Ông ấy (Andre Sauvageot), mặc dù chỉ là một phiên dịch, đã đứng ra dàn hoà hai bên, và làm cho không khí nó êm ái trở lại để đi đến kết quả. Sau này ông ấy nghiên cứu đường lối chính sách đối ngoại  của Việt Nam và chuyển sang tiếng Anh, để giúp người Mỹ tại Mỹ hiểu rõ hơn lập trường của Việt Nam."
Tuần Việt Nam xin giới thiệu đánh giá về quá trình bình thường hoá quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Việt Nam qua bốn đời tổng thống Mỹ của ông Andre Sauvageot, với tư cách một nhân chứng, một chuyên gia phân tích và một cử tri.

- Phóng viên Huỳnh Phan: Theo Peter Arnett, cựu phóng viên chiến trường ở Việt Nam và cũng là người theo dõi quá trình bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ thời hậu chiến, Tổng Thống Jimmy Carter có quan điểm tiến bộ, còn Tổng Thống Ronald Reagan thì lại là người bảo thủ, trong quan hệ với Việt Nam. Theo Peter Arnett, quan điểm của chính quyền Reagan là không muốn có một Việt Nam mạnh. Và chỉ khi Tổng thống George W.H. Bush (cha) lên, chính quyền Mỹ mới nhận thức rằng ủng hộ cho Pol Pot là khuyến khích cho một tội ác dã man.
Là người tham gia gần như từ đầu vào tiến trình bình thường hoá quan hệ Mỹ - Việt, ông có chia sẻ nhận định này của nhà báo Peter Arnett hay không?

- Cựu Đại tá lục quân Andre Sauvageot: Tôi đồng ý với nhận định đó, nhưng chỉ một nửa thôi, với cả ba người. Tôi bỏ phiếu cho Jimmy Carter một lần, Ronald Reagan 2 lần, và George Bush một lần.
Vậy chúng ta hãy bắt đầu từ Tổng thống Jimmy Carter. Tại sao ông bỏ phiếu cho ông ta?
Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, tôi quyết định không bỏ phiếu cho ứng cử viên của Đảng Cộng hoà của Richard Nixon nữa. Và tôi chọn Jimmy Carter vì tôi nghĩ ông thông minh, nhân đạo.

Tôi biết một số người trong Nhóm tư vấn của Tổng thống Carter trong thời gian chuyển giao quyền lực. Ngay khi Carter trúng cử tôi đã viết một báo cáo nêu lý do tại sao cần thiết lập bang giao với Việt Nam, nhằm giúp họ về lập luận để thuyết phục ông Carter. Họ thích, và phản ứng của Carter lúc đầu cũng tích cực.

Và phía Việt Nam cũng đã phạm sai lầm, trong năm 1977, và bỏ lỡ cơ hội bình thường hoá.
Ông nói tới lập trường kiên quyết của phía Việt Nam buộc Mỹ phải thực hiện điều 21 của Hiệp định Paris?

Đúng. Bởi hiệp định này đã bị cả hai Việt Nam Cộng hoà và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vi phạm. Mặc dù Việt Nam Cộng hoà vi phạm trước, và vi phạm nhiều lần, nhưng vi phạm của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vi phạm lớn hơn và đã thành công. Đầu năm 1974, tôi đã cùng một Thiếu tướng của Cơ quan Tình báo Quân đội Mỹ sang Việt Nam điều tra chuyện này, và tôi có thể khẳng định nhận định nói trên.

Vì vậy, không đời nào quốc hội Mỹ chấp nhận chuyện thi hành nghĩa vụ tài chính này. Và đòi hỏi của phía Việt Nam, trong nửa nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Carter, đã tạo cớ cho những người muốn chống lại bình thường hoá bang giao. Tôi đã nói rõ điều này với phía Việt Nam, kể cả một số người của Bộ Ngoại giao Việt Nam lẫn người dân mà tôi gặp, khi qua Hà Nội đầu năm 1982.

Và đến cuối năm 1978, khi Việt Nam từ bỏ yêu cầu này từ phía Mỹ, quan điểm của Tổng thống Carter đã quay ngược 180 độ.

Cựu Đại tá lục quân Andre Sauvageot (ngoài cùng bên phải) và Thứ trưởng ngoại giao Lê Văn Bàng.

Lý do chính, theo ông, vì sao?

Tôi theo dõi kỹ và thấy rằng quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia dưới thời Khmer Đỏ, được sự ủng hộ của Trung Quốc, ngày càng căng thẳng. Việt Nam cho đến thời gian đó đã kiên trì với nỗ lực chính trị và ngoại giao với Mao Trạch Đông, rồi Đặng Tiểu Bình, nhưng bất thành.
Và đỉnh điểm là đến cuối năm 1978, Khmer Đỏ cho quân vượt qua biên giới Việt Nam, giết hàng trăm dân thường vô tội.

Rồi sau khi Việt Nam đưa quân vào giải phóng Phnompenh vào 7.1.1979, Đặng Tiểu Bình đã bay sang Washington DC, họp với Cố vấn An ninh Brzezinski, để lấy sự ủng hộ của chính quyền Carter cho cuộc xâm lăng Việt Nam một tháng sau đó. Đặng Tiểu Bình đã nói:" Trung Quốc không phải là một con hổ giấy. Trung Quốc sẽ dạy cho Việt Nam một bài học, vì đã xâm lăng Campuchia."

Tôi còn nhớ rất rõ, sau khi họp với Đặng Tiểu Bình, Brzezinski đã tuyên bố với những tờ báo lớn của Mỹ như New York Times, hay Washington Post như sau: "China said they will teach Vietnam a lesson. I say it will be an entire curriculum."

Anh thấy đấy, Trung Quốc chỉ nói là một bài học thôi, nhưng Brzezinski lại khẳng định rằng không chỉ như vậy, mà cả một khoá học, với biết bao nhiêu bài học. Tức là thể hiện sự ủng hộ Trung Quốc trừng phạt Việt Nam một cách lâu dài rồi còn gì.

Như vậy, ông cho rằng chính Brzezinski đã tác động khiến Tổng thống Carter thay đổi quan điểm với Việt nam?

Tôi chưa bao giờ được nói chuyện trực tiếp với Carter, nên tôi không dám khẳng định điều đó. Tôi chỉ nêu ra các sự kiện theo trình tự của nó thôi.

Thất vọng thứ hai của tôi, là lúc tôi sang Bộ Ngoại giao năm 1980, làm cố vấn chính trị và quân sự của Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Đông Á - Thái bình dương Richard Holbrooke, một người bạn cũ của tôi từ thời Chiến tranh Việt Nam. Tôi đã hy vọng sang đó sẽ sát cánh cùng Holbrooke, người đàm phán 3 lần với Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền năm 1977 và Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch vào mùa thu năm 1978 về bình thường hoá bang giao Mỹ - Việt, tiếp tục tiến trình này.
Nhưng ông ấy cũng thay đổi 180 độ luôn. Ông ta lại tích cực vận động để cô lập hoá Việt Nam, nhằm ép Việt Nam rút khỏi Campuchia, và giữ ghế của Pol Pot ở Liên Hiệp Quốc.
Holbrooke có mấy lần mang theo tôi đi phiên dịch cho ông ta, khi gặp Đại sứ Việt Nam tại LHQ Hà Văn Lâu. Và tôi còn nhớ mãi một lần Đại sứ Hà Văn Lâu nói: "Mỹ cấu kết với Trung Quốc chống lại Việt Nam tại Campuchia."

Holbrooke phủ nhận: "Không. Chúng tôi không cấu kết với Trung Quốc, mà chúng tôi có quyền lợi song song với nhau."

Tôi hiểu ông bạn cũ và thủ trưởng của tôi, ông Holbrooke, nếu không chấp hành chỉ đạo của cấp trên thì sẽ bị sa thải. Nhưng, với Tổng thống Jimmy Carter thì tôi thất vọng hoàn toàn.

Đó là lý do ông bỏ phiếu cho Ronald Reagan của Đảng Cộng hoà?

Còn thêm một lý do nữa là khi Liên Xô đưa quân vào Afganistan, ông ta đã rất ngạc nhiên và thốt lên: "Tôi đã có sự cam kết của người lãnh đạo cao nhất của Liên Xô là không làm như vậy." Ngây thơ quá!

Ông thấy trong hai nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Reagan đã làm được gì, theo sự kỳ vọng của ông?

Tổng thống Reagan, với sự cố vấn của những người hiểu biết, rõ ràng tìm ra cách khai thông quan hệ với Việt Nam mà dư luận và quân đội có thể chấp nhận được. Bởi điều hấp dẫn nhất với người Mỹ lúc đó là kiểm điểm người Mỹ mất tích ở Việt Nam.  Đó là một nhu cầu quốc nội mà không có bất cứ chính trị gia nào chống lại được.

Và nhiệm vụ của Richard Armitage là đạt được sự hợp tác của Việt Nam để kiểm điểm tới mức tối đa người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Tôi được cử làm người phiên dịch cho ông Armitage trong cả 3 chuyến ông sang Việt Nam vào tháng 2.1982, tháng 2.1984 và tháng 1.1986.

Nhưng hay nhất là ông Armitage, ngay từ lần đầu sang Việt Nam tháng 2.1982, đã nghe hết và ghi chép lại những ý kiến của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, hay đại diện phía Việt Nam, khi họ muốn mở rộng vấn đề thảo luận, ra bên ngoài vấn đề MIA - chủ đề duy nhất ông Armitage được phép thảo luận. Thậm chí, ông Armitage sẵn sàng ngồi thêm sau giờ thảo luận chính thức, và trịnh trọng hứa với ông Thạch là sẽ báo cáo với Tổng thống Reagan.

Ông có tin rằng những điều ông Thạch đề xuất sẽ được ông Armitage báo cáo lên Tổng thống Reagan?

Tại sao không? Bởi nếu Tổng thống không quan tâm đến chuyện đó, ắt hẳn lần thứ hai, lần thứ ba, ông Armitage sẽ không chịu khó ngồi nghe ông Thạch mở rộng vấn đề đâu, mà sẽ từ chối luôn.

Đó chính là tiền đề quan trọng để Đại tướng John Vessey - đặc phái viên của Tổng thống Reagan - được phép mở rộng nội dung đàm phán, như tìm kiếm người Việt Nam mất tích, hay Operation Smile, đưa bác sĩ Mỹ sang mổ cho trẻ em khuyết tật (hở hàm ếch) của Việt Nam. Tất cả những chương trình đó nằm trong Vessey's initiaves (Những sáng kiến của Vessey).

Tôi nghĩ tất cả những nỗ lực khôn khéo này của chính quyền Reagan đã mở đường cho hai nước thêm xích lại gần nhau, mặc dù vẫn chưa thể bình thường hoá được.

Những nỗ lực đó của ông Reagan đã được người kế nhiệm tiếp tục như thế nào?

Thứ nhất, Tổng thống Bush tiếp tục giữ lại Tướng Vessey làm đặc phái viên, nhằm giữ đà quan hệ. Và điều lớn nhất ông làm được trong nhiệm kỳ của mình vào tháng 4.1992, ông đã ký sắc lệnh nới lỏng lệnh cấm vận, bằng cách cho phép công ty Mỹ mở văn phòng đại diện tại Việt Nam, cũng như cho phép tiếp thị và bán dược phẩm, nhu yếu phẩm, nông sản, và thiết bị y tế.

Nhưng điều tôi khiến tôi thất vọng là vào cuối nhiệm kỳ của mình, ông đã không bỏ hoàn toàn cấm vận đối với Việt Nam. Lúc đó, ông không còn chịu sức ép nào nữa, bởi đã thất cử và chỉ làm nốt những ngày cuối cùng ở Nhà Trắng. Tại sao lại không bỏ cấm vận luôn đi?

Ông nghĩ là vì lý do gì?

Tôi nghĩ là lý do cá nhân. Ông ta không muốn tạo thuận lợi cho người đã thắng ông trong cuộc bầu cử trước đó. Hãy để cho Bill Clinton tự xoay xở, chắc ông Bush đã nghĩ vậy.

Nhưng vì sao ông Bush lại không làm việc đó từ tháng 4 đến tháng 11? Hay vì ngại mạo hiểm? Bởi khả năng mất phiếu ủng hộ từ những người chống bỏ cấm vận, như một số tổ chức cựu binh, hay gia đình người Mỹ mất tích, là hoàn toàn có thể.

Tôi không nghĩ ra một giả thuyết khác hay hơn. Và tôi nghĩ, nếu ông tái đắc cử, việc đầu tiên ông Bush làm là sẽ tuyên bố bỏ cấm vận Việt Nam. Chứ không phải chờ một năm nữa như Tổng thống Bill Clinton.

Tại sao?

Ông Bush thuận lợi hơn nhiều, bởi ông là anh hùng của nước Mỹ trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Còn ông Clinton đã bị mang tiếng trong không ít cử tri Mỹ là kẻ nhát gan, không dám sang chiến đấu ở Việt Nam, nên phản đối quân dịch. Đó là luận điệu tuyên truyền của phe ông Bush trong chiến dịch tranh cử năm 1992.

Còn ông đánh giá thế nào về hành động đó của ông Clinton?

Tôi không nghĩ ông Clinton nhát gan, mà ông sáng suốt thì đúng hơn. Bởi tôi chỉ nhận thức rằng đó là một cuộc chiến tranh vô nghĩa với người Mỹ chỉ sau 9 năm phục vụ tại Việt Nam.
Ông Clinton lại có thêm một cái khó nữa là khi ông chuẩn bị bỏ cấm vận thì lại nổi lên vụ tài liệu Nga liên quan tới giả thuyết rằng Việt Nam đã đưa phi công Mỹ bị bắt sang Nga. Tôi còn nhớ khi dịch cho phái đoàn quốc hội do TNS John Kerry dẫn đầu sang Hà Nội xác minh về câu chuyện này, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai đã phản ứng rất mạnh. Ông nói với TNS Kerry: "Đó là một âm mưu phá hoại."

Và trong hai nhiệm kỳ của mình ông đã làm được hai việc rất quan trọng: bình thường hoá quan hệ ngoại giao và thương mại với Việt Nam. Tuy Hiệp định thương mại Mỹ - Việt phải chờ sang tới nhiệm kỳ của ông Bush con mới được Quốc hội phê chuẩn.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-12-13-4-doi-tong-thong-voi-binh-thuong-hoa-bang-giao-viet-my