Saturday, May 21, 2022

 PHẨM TAM QUỐC


Cầm trên tay cuốn: Phẩm Tam Quốc, lại nhớ hồi còn thiếu niên. Cứ chiều đến bất kể mưa phùn gió bấc hay không khí nóng hầm hập như rang, đúng 6.00 lại chạy sang nhà hàng xóm có cái Cassette xịn xò Sharp 777, để chờ nghe Nguyễn Thanh đọc truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa. Từ thứ 2 đến thứ 6 mỗi ngày chừng 10 đến 15 phút, kéo dài đến cả năm trời để nghe đọc hết. Lớn lên hơn chút thì đọc truyện, xem phim, đọc các bình phẩm, rồi nghe lỏm người lớn tuổi bình phẩm. Khi ra trường đi làm vẫn nghe các đàn anh nói chuyện Tam Quốc trong công việc. Có anh làm doanh nghiệp bảo Tam Quốc là sách gối đầu giường của giới doanh thương Nhật Bản. Của đáng tội, sau này đi giảng lãnh đạo và chiến lược thì mình cũng hay lấy ví dụ trong Tam Quốc. Thậm chí có lãnh đạo chất vấn: thầy dân tây học giảng leadership, sao lại lấy nhiều ví dụ Tàu như vậy. Nhiều khi cứ phải vậy, muốn học Tây lại phải bắc cầu qua ví dụ Tàu cho đỡ sốc văn hóa. Kể cũng lạ.


Nhân đọc cuốn sách mới ra này, thấy có vài điều gợi mở viết ra theo dạng năm câu hỏi dưới đây, để cùng chia sẻ:


1. Tại sao Tam Quốc lại hấp dẫn với người Việt Nam?

Có thể nói, những câu chuyện xoay quanh Tam Quốc viết về một giai đoạn lịch sử khá ngắn ngủi nhưng vô cùng đặc sắc của đất nước Trung Hoa, được tính từ năm 190 CN đến 280 CN. Tất cả chỉ chừng 90 năm, trong đó thế Tam Quốc chỉ được hình thành và lụi tàn trong khoảng 60 năm, với sự xuất hiện của nước Ngụy năm 220, Thục 221, và Ngô 222, cho đến khi tất cả qui tụ về nhà Tây Tấn. 


Giai đoạn này có thể tóm lược trong chữ “loạn”. Xã tắc lê dân bá tánh khổ ải, lầm than, đói rét, xương khô, xác chết đầy nội, trong chiến tranh loạn lạc triển miên. Loạn thế sinh anh hùng, nhân tài hào kiệt lớp lớp. Thời thế hun đúc lên khí chất và tài năng của con người. Khi phân tích về Trung Hoa, nhà nghiên cứu kinh tế chính trị nổi tiếng thế giới, GS Fukuyama cho rằng: chính những nỗi đau khổ trùng trùng từ chiến tranh liên miên đã tạo động lực nuôi dưỡng nên những mong muốn thái bình thịnh trị, an dân, khát khao thống nhất thiên hạ, tạo dựng nên nhà nước mạnh với sự đồng tâm hiệp lực của các nhân tài. Cho nên, đứng từ góc độ chính trị học, Trung Quốc có truyền thống nuôi dưỡng, trọng dụng, và phát triển nhân tài, tạo nên những nhà nước mạnh từ thời Tần Hán. Dù so với phương Tây, theo Fukuyama, Trung Quốc lại bị yếu ở hai cột trụ còn lại, đó là tính pháp quyền và chính phủ có tính giải trình, hay dân chủ xã hội.


Theo Dịch Trung Thiên, so cả tiến trình lịch sử giai đoạn Tam Quốc tuy ngắn nhưng lại rất đặc biệt, như một khúc cua của lịch sử. Nhà Tần tuy ngắn ngủi nhưng đã tạo ra một bức đột phá lớn về xã hội, chuyển từ một xã hội phong kiến, đa quốc gia phân tán, sang nhà nước đế quốc tập quyền. Chuyển sự cai trị từ quí tộc, sang địa chủ quí tộc. Nhà nước đế quốc có xu hướng giải quí tộc. Sang đến thời Hán, thì xuất hiện thêm tầng lớp nho sĩ, tham gia vào bộ máy lãnh đạo, tạo nên liên minh quyền lực là địa chủ sĩ tộc, rồi chốt lại là địa chủ thứ tộc. Thứ tộc là tầng lớp nghèo nhưng có động lực lập thân qua con đường học hành thi cử. Mỗi đời tự học tự thi chứ không có cha truyền con nối, tạo nên cơ chế cạnh tranh nhân tài, nảy nở nhiều nhân tài cho xã hội.

Những nhân tài này tham gia đông đảo vào các bộ máy cai trị hay chiến tranh. Họ ra sức thi thố để chứng tỏ tài năng, mong thể hiện chí lớn, muốn lập công lớn, góp phần tạo dựng thiên hạ thái bình thịnh trị. Chính vì vậy, nhân tài trong Tam Quốc lớp lớp không kể hết đủ các dạng từ nhân tài lãnh đạo, chiến lược, công nghệ, võ thuật, binh thư, ngoại giao, mưu lược kế sách, không dễ gì kể tên hay nhớ hết những nhân vật xuất chúng. Đồng thời nhờ người tài và trọng dụng người tài nên bên nào cũng quyết tâm lập chí lập nghiệp, muốn giành chiến thắng. Tạo nên một bức tranh tổng thể xã hội vô cùng sinh động, sống động, và năng động, mang tính liên tưởng học hỏi thú vị, giá trị, gần gũi và sâu sắc.


Sự tương đồng của xã hội Việt Nam, ít nhất là từ khi giành quyền tự chủ từ phong kiến Trung Hoa. Trong hơn một ngàn năm trở lại đây, người Việt cũng luôn trải qua hay bị sa vào các cuộc chiến do cả những mâu thuẫn nội bộ, đến những xung đột từ bên ngoài. Có lẽ đó chính là lý do cốt lõi làm cho Tam Quốc đã trở nên vô cùng gần gũi, sống động trong suốt chiếu dài lịch sử, không chỉ trong giới sĩ phu, quan lại, mà còn trong mỗi cuộc cờ, bàn rượu, hay những trao đổi công việc của giới bình dân, trong sinh hoạt thường nhật mỗi gia đình.

Câu chuyện thứ nhất đại khái là như vậy.


2. Tào Tháo là người như thế nào?

Hình tượng Tào Tháo rõ ràng là không tốt lắm, đa nghi như Tào Tháo, gian như Tào Tháo, thậm chí còn Tào Tháo đuổi. Nhưng ngược trở lại, nếu hỏi thích ai nhất thì có lẽ quá nửa học viên các lớp CEO sẽ chọn Tào Tháo. Vậy thì nói về Tào Tháo có lẽ nổi lên hai khía cạnh: thứ nhất là nhiều thành kiến và thứ hai là giỏi giang xuất chúng. Hai cái này thậm chí còn quyện vào nhau.


Tại sao Tào Tháo lại bị thành kiến thì đầu tiên chính là vì ông giỏi, như câu nói dân gian: tài chi cho lắm cho trời đất ghen. Tiếp theo là ông hành động khó đoán, miễn là cá nhân ông cho là đúng, đặt ưu tiên hành động lên trước. Đây là đặc điểm lãnh đạo rất hiện đại trong một xã hội trọng khuôn phép, con người thích thể hiện tài năng bằng văn vẻ, nặng về trình bày mô tả, coi hành động thẳng thắn là lỗ mãng, không có phép tắc. Tiếp theo nữa, không chỉ mạnh mẽ ưa hành động mà ông còn hay nói thẳng, thích gì nói đó, không lòng vòng. Một người không theo khuôn phép, phá cách trong cả suy nghĩ, lời nói và hành động, lại đạt kết quả vượt trội, nên dễ bị nhìn, bị đánh giá tiêu cực. Ví dụ khi biết giết lầm Lã Bá Tra, Tháo tự nhủ rằng thà mình phụ người cũng còn hơn người phụ mình. Ý ông ta chỉ là trong sự việc đã xảy ra thì đằng nào cũng như thế, dù sao cũng lỗi từ mình gây ra. Nhưng đến La Quán Trung, thì câu đó lại bị đẩy thành quan điểm, thái độ, chứ không dừng ở sự việc. Ý lại được chuyển thành là ta sẵn sàng phụ cả thiên hạ, chấp tất cả. Cái tiếng xấu cứ bị lặp đi lặp lại, đôi khi là lặp lại có định hướng theo những diễn ngôn chính trị có lợi cho các hoàng đế thì câu chuyện gian manh, xảo trá, được lặp đi lặp lại thành hình mẫu. Tuy vậy cũng phải nói trong con người Tháo cũng có chất giảo hoạt, gian tính, do từ bé lêu lổng chơi bời dấn thân từ nhỏ trong một thế giới loạn lạc đầy sự lọc lừa. Nói cho cùng cũng là con người, có ai là hoàn hảo được. Khi làm việc lớn thì ngoài phần tốt, phần tiêu cực cũng thể hiện rõ ra. 


Vậy những đặc trưng điểm mạnh của Tào Tháo là gì?

Thứ nhất Tháo có tài xuất chúng hơn người cả về văn lẫn võ. Ngay từ trẻ nhiều người đã nhìn thấy khả năng thu phục thiên hạ của con người này. Không chỉ văn võ, Tào Tháo còn rất chịu khó sưu tầm đọc binh thư các cách thức dung binh.


Thứ hai, người này có tầm nhìn và ý chí lớn, suy nghĩ khác biệt. Hầu hết các hào kiệt thời loạn chỉ muốn nhảy lên chiếm cứ, thoả mãn cái tôi cá nhân, thì Tào Tháo có tầm nhìn thống nhất thiên hạ, dẹp yên các nhóm quân phiệt. Nhưng ông này cũng hiểu cái uy tín của mình không tốt, nên biết dựa vào hình tượng thiên tử để thu phục thiên hạ.


Thứ ba, khả năng tự hoàn thiện tốt. Chủ động dấn thân, học hỏi từ thực tiễn chiến đấu. Luôn khích lệ sự trao đổi chia sẻ, và biết học hỏi rút tỉa những ý tưởng thông minh nhất từ những người xung quanh.


Thứ tư, thẳng thật trong cả lời nói và hành động dù đôi khi không dễ nghe hay dễ chấp nhận, nhưng luôn ưu tiên hành động chủ động, chấp nhận cả sai lầm.


Thứ năm, Tào Tháo là người sống tình cảm. Đa số bạn cũ người quen cũ, kể cả những người phản bội, Tháo cũng chỉ mắng qua loa rồi tha như Trần Cung, Trương Mạc, Trần Lâm. Trừ một hai trường hợp quá bất kính mà lặp đi lặp lại vượt qua ranh giới. Thậm chí có trường hợp như người vợ cả họ Đinh của Tào Tháo, không có con, nhận Tào Ngang làm con nuôi. Khi Tào Ngang chết trận, bà này trách mắng, khóc lóc, nhiếp móc Tào Tháo không quan tâm con. Bực mình Tào Tháo đuổi về nhà mẹ đẻ. Nhưng sau đó, Tháo đến tận nhà tận tình dỗ dành, kiên nhẫn mời về,dù không phải là xuân sắc hay dễ chiều gì. Khi về già, Tào Tháo cũng chủ yếu nói về cuộc sống của những người phụ nữ xung quanh sau khi ông chết. Dù điều này bị mang tiếng là chỉ loanh quanh chuyện nữ nhi, không đưa ra được ý gì lớn trước khi ra đi.


Tóm lại thì Tào Tháo là một tài năng xuất chúng, nhân cách đa diện, có nhiều điểm khác biệt không dễ hiểu, nên dễ bị hiểu lầm, bị mang tiếng, nhưng không phải là không có cái gian xảo. Mọi người vẫn đặt ra, vậy Tào Tháo là anh hùng, gian hùng, hay gian thần. Tác giả Dịch Trung Thiên, kết luận Tháo là gian hùng đáng yêu, có hùng, có gian nhưng có sức hấp dẫn. Cái này cũng rất hay. Nếu phải chọn thì có lẽ tôi chọn Tào Tháo là kỳ hùng. Anh hùng thì rõ rồi, nhưng chữ Kỳ nghĩa là cao lớn, khác biệt, khó đánh giá, có khi còn kỳ quặc với rất nhiều người.


3. Lưu Bị có tài hay bất tài?

Khi nói về Lưu Bị, không ít người cho rằng ông này là người bất tài, chỉ toàn chạy mới khóc. Thật ra thì Tào Tháo cũng chạy cũng khóc nhiều, chỉ là ít hơn Lưu Bị thôi. Còn cụ Tổ của Lưu Bị là Lưu Bang đánh nhau cũng chạy suốt. Thời loạn, bày quân ra đánh nhau, vỡ trận mà không bỏ chạy thì làm gì được. Chạy mới khóc thời đó không có gì xấu. Ngược lại xem có tài hay không, thì phải xem làm được gì. Vậy thì nói luôn, Lưu Bị là người đầu tiên xưng đế trong Tam Quốc. Lửa thử vàng gian nan thử sức. Thời loạn đánh sát ván tả bổ xiểng như vậy không có tài thì không có cửa gì cả. Hơn nữa, qui luật của loài người: thì người tài chỉ đi theo người tài hơn, chứ không dễ gì có thể dỗ dành nịnh bợ được họ. Cái khó của Bị là ông này tay trắng, sạch trơn như không có gì nếu so với cơ ngơi của Tào Tháo hay Tôn Quyền. Nhưng ông ấy lại trở thành hoàng đế. Cái tài năng cái anh hùng nó sờ sờ ra đó thôi.


Cái tài đầu tiên có lẽ phải nói ông này là thánh đu dây, chuyên đi vào cửa tịt với một chút hy vọng nhỏ nhoi. Bởi lẽ ông xuất thân bần hàn, vốn nhỏ, quân ít, nhưng lại muốn làm việc lớn, nên ông là một người cực kỳ nhạy bén, nhìn nhanh ra khe của hẹp, nhìn ra thị trường ngách, đu dây giữa các lực lượng mạnh khác để tìm thời cơ. 


Cái tài thứ hai, ông Bị rất giỏi thu phục người tài bằng cả sự thấu hiểu, kiên nhẫn, và sự sẵn sàng hy sinh cho mối quan hệ. Khả năng thu hút nhân tài của Lưu Bị là xuất chúng, vượt trội hai người còn lại.


Thư ba là rất giỏi truyền thông, xây dựng thương hiệu cá nhân. Tuy lực yếu hơn nhưng lại chọn positioning thương hiệu, trực tiếp đối đầu với Tào A Man, Bị là tôn thất hàng xịn authentic, còn Tháo là gian thần, hàng rởm. Định vị này giúp Lưu Bị giành được chính nghĩa, cực kỳ lợi thế trong thu hút nhân tài.


Nói tóm lại, Lưu Bị là một nhân tài và một anh hùng đã thành danh, thành nghiệp. Ông có chí anh hùng, nuôi chí anh hùng theo đuổi nghiệp lớn; có khí khái anh hùng không ngại bàn bạc ngồi cùng mâm với những người giàu mạnh hơn mình; có phong thái và hồn cốt anh hùng, đến Tào Tháo cũng phải thốt lên: anh hùng thiên hạ chỉ có tôi và ông. Và ông có cả tình nghĩa trái tim anh hùng. Anh hùng chỉ phục anh hùng, nhất là lại chọn đi theo người bần hàn yếu thế thì phải có một trái tim năng lượng rất mạnh để thu hút những Quan, Trương, Khổng Minh, Mã Siêu, Triệu Tử Long. Đôn đáo vất vả cả đời chỉ vì không có địa bàn không có vốn liếng lớn, nhưng vẫn thành nghiệp. Anh tài như vậy không đáng kính trọng hay sao.


4. Đôi điều về Tôn Quyền

So với hai người trên, Tôn Quyền là người có nền tảng vững chắc, xây dựng và củng cố, truyền đến Quyền là đời thứ ba. Nhận định về Tôn Quyền thì không ai có lời đánh giá đắt như Tôn Sách, lúc lâm chung bàn giao lại cho Tôn Quyền: Dẫn quân Giang Đông quyết thắng giữa hai quân, tranh giành với thiên hạ thì em không bằng ta; biết dùng người hiền tài để họ hết lòng hết sức giữ Giang Đông thì ta không bằng em được. 


Giữ Giang Đông, chờ thiên hạ có biến, cũng là chiến lược mà Tôn Quyền được đời trước vạch sẵn cho. Chính Tôn Quyền cũng đã được chọn để thực thi chiến lược đó. Chiến lược sau này của Đông Ngô cũng là luôn thủ vững. Cái sâu sắc của Tôn Quyền là biết chọn người tài, đúng người đúng thời điểm, trao quyền cho họ, để gặt hái thành quả. Từ Chu Du, đến Lỗ Túc, Lã Mông, Lục Tốn, đều được phát huy rất tốt. Mặc dù phải nói rằng, càng về sau độ nhạy bén của nhân tài có phần mòn đi. Thời Tôn Quyền cũng thời Đông Ngô vươn tay với đến vùng Đồng bằng Bắc bộ ngày nay, thu phục con của Sĩ Nhiếp về theo hàng Ngô. Nói ngắn gọn thì Tôn Quyền giỏi cẩn trọng giữ mình, trao quyền cho nhân tài để hưởng phúc của cha anh để lại. Cũng rất gương mẫu biết mình biết ta, xứng đáng gọi là một minh quân.


5. Cuối cùng, tại sao nên đọc Phẩm Tam Quốc?

Phẩm không phải là một công trình khoa học, nhưng được tác giả là GS Dịch Trung Thiên gạn lọc kỳ công chặt chẽ và khoa học, để tìm về nguyên gốc các nhân vật, gạn lọc các sử liệu để hoàn nguyên cho những con người điển hình trong Tam Quốc. Chẳng hạn, khi muốn tìm về ưu điểm của Tào Tháo, ông phải tra cứu tất cả các tư liệu sử để đối chiếu, rồi tìm đến những tác giả có cái nhìn tiêu cực về Tào Tháo để xem họ có đề cập tới khía cạnh đó không, mới lấy đó làm căn cứ khẳng định. Với cách làm khoa học và cẩn trọng đó, thậm chí ông đã chỉ ra không ít sơ hở trong Tam Quốc Chí của Trần Thọ hay các cuốn sử khác. Trên cơ sở hoàn nguyên nhân vật, tác giả sẽ đem so với hình ảnh trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa và hình tượng trong sân khấu dân gian.


Tư duy phân tích cắt lớp này sẽ giúp người đọc hiểu rõ về đặc điểm nhân cách của từng nhân vật, đặt trong quá trình xuất thân và trưởng thành của nhân vật đó. Điều này sẽ cung cấp một phương pháp luận, một góc nhìn sâu sắc, mang tính ứng dụng cao cho các nhà lãnh đạo trong công tác quản trị nhân lực và phát triển tổ chức.


Xin trân trọng giới thiệu đến các bạn FB cuốn “Phẩm Tam Quốc” của Dịch Trung Thiên, do Quảng Văn vừa phát hành.


Tien Long Do

21/05/2022


Thursday, May 10, 2018

tau chưởi - Trần Vàng Sao



tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan

tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
….
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây

bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
……
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi  cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng  giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây

Wednesday, April 18, 2018

Sự kiêu ngạo cộng sản (phần 2)

Tác giả Nguyễn Thông

Hồi các thể chế chính trị trên thế giới còn chia làm hai phe kình địch, lứa 5X chúng tôi ở miền Bắc luôn được nghe từ đài báo nhà nước, từ cán bộ tuyên truyền rằng chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại, còn chủ nghĩa tư bản đang tự đào mồ chôn, đang giãy chết. Cứ nghe mãi những điều ấy rồi cũng thành niềm tin mặc dù chẳng biết chủ nghĩa cộng sản lẫn chủ nghĩa tư bản mặt mũi ngang dọc như thế nào. Cái mùa xuân mà họ nói thì quá xa xôi, chưa biết bao giờ mới theo chim én về, còn tư bản khi nào chết cũng chả biết. Mọi thứ đều rất mơ hồ, chỉ có nghèo đói, chiến tranh, xung đột, nồi da xáo thịt... là có thực, phải chứng kiến hằng ngày.
Phải thừa nhận người cộng sản, dù ở Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam, rất giỏi tuyên truyền. Họ nắm được quyền lực, độc quyền quyền lực, rất mạnh tay thực hiện chuyên chính vô sản, huy động hết tất cả cung bậc của bộ máy tuyên truyền, lại cộng thêm thuật mị dân siêu hạng, nên có những thứ họ tưởng tượng ra tuy chỉ là bánh vẽ nhưng phần đông dân chúng cũng tin là thực. Dường như bất cứ điều gì họ chủ trương, nêu ra, họ (người cộng sản) đều tự cho là chân lý, bắt dân phải tin đó là chân lý. Chẳng hạn họ luôn đề cao chủ nghĩa duy vật, chống lại mọi quan điểm duy tâm; đề cao tập thể, chống tôn sùng cá nhân… nhưng trên thực tế thì ngược lại. Chính họ duy tâm siêu hạng, tôn thờ cá nhân, sùng bái cá nhân siêu hạng.
Trước hết, có thể thấy rõ sự kiêu ngạo cộng sản lộ rõ ở những từ ngữ, khẩu hiệu mà họ thường dùng. Hằng ngày luôn bắt gặp trên sách báo, trong những bản tin đài phát thanh, trên cửa miệng của cán bộ tuyên truyền, trên những bức tường khắp vùng thành thị lẫn nông thôn những từ: muôn năm, mãi mãi, vô địch, đời đời bền vững, sống mãi, bách chiến bách thắng, bất diệt, vinh quang…, tất cả đều hàm chứa sự duy ý chí, phản lại quy luật cuộc sống. Đi đâu cũng gặp những câu khẩu hiệu dạng: Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến cách thắng vô địch muôn năm, đảng lao động VN quang vinh muôn năm (giờ đây câu này gần như hiện diện 100% trên sân khấu tại các hội trường cơ quan đơn vị, chỉ khác tí ti là thay chữ lao động bằng chữ cộng sản), đảng là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng, chủ tịch… sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta, tình hữu nghị Việt-Xô (Việt-Trung) đời đời bền vững, tinh thần cách mạng tháng Tám bất diệt… Hồi mấy chục năm trước, tôi đi xe lửa qua chỗ nhà máy xi măng Bỉm Sơn (do Liên Xô giúp xây dựng) thấy trên nóc nhà máy câu khẩu hiệu đúc bằng bê tông to vật vã “Tình hữu nghị Việt-Xô đời đời bền vững”, sau nó mất đi lúc nào không biết. Là người duy vật, lẽ ra họ phải hiểu hơn ai hết rằng chẳng có cái gì tồn tại mãi mãi, bất diệt, vững bền muôn thuở, chẳng có gì hoàn hảo không tì vết. Mặt trời còn có lỗ đen, ngọc họ Hòa còn bị mẻ, nói chi con người, xã hội loài người. Thế nhưng họ cứ thích nói ngược.
Sự sùng bái cá nhân của người cộng sản dường như một phần được hình thành từ sự kiêu ngạo. Với họ, cứ là lãnh tụ thì sẽ là thần thánh, là đỉnh cao chói lọi, sáng như vầng thái dương, đẹp hơn cả mùa xuân. Mỗi lời nói của lãnh tụ chả khác gì châu ngọc, gấm thêu. Những Lênin, Mao Trạch Đông, Stalin, Kim Nhật Thành, Castro, và cả cụ Hồ, đều được họ ca tụng cực kỳ mẫu mực, đẹp đẽ. Còn hơn cả phật, cả chúa. Không ai được động vào thần tượng. Nói đâu xa, ngay cỡ lãnh tụ tầm vừa vừa ở xứ ta, như các vị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh…, tới dịp kỷ niệm ngày sinh ngày mất là cứ ồn ào như hội, đó là chưa kể xây dựng đủ thứ nhà tưởng niệm nọ kia khiến thiên hạ cảm tưởng đó là thánh chứ không phải người.
Tự xưng là lực lượng tiến bộ nhất của xã hội loài người, có tư duy khoa học, nhìn nhận sáng suốt, suy nghĩ biện chứng… nên họ rất kiêu ngạo. Chắc nhiều người còn nhớ, sau cuộc nội chiến kéo dài suốt hơn 20 năm, người cộng sản giành phần thắng. Thắng nên càng sinh kiêu ngạo, dù luôn mồm bảo "thắng không kiêu, bại không nản". Sau ngày 30.4.1975 rất phổ biến tâm lý rằng “từ nay đất nước ta hoàn toàn giải phóng, vĩnh viễn độc lập tự do”, “đất nước ta đã thu về một mối, vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của đế quốc thực dân, vĩnh viễn sạch bóng quân thù, hoàn toàn tự do độc lập”. Những câu trên tôi trích trong Lời giới thiệu cuốn “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” của Nhà xuất bản Sự Thật (nhà xuất bản riêng của đảng), xuất bản tháng 8.1975 (tôi đang có cuốn sách này). Và không chỉ trong sách, chính Tổng bí thư Lê Duẩn cũng từng rất hào hứng khẳng định trong diễn văn tại lễ kỷ niệm quốc khánh 2.9.1975 rằng kể từ nay đất nước vĩnh viễn sạch bóng quân thù, thênh thang con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự mừng rỡ say chiến thắng thái quá cùng sự kiêu ngạo đã làm họ không thấy những tai họa cận kề đang rình rập, kéo dài mãi tận bây giờ.
Nhưng có thể châm chước cho những suy nghĩ như thế khi ở vào thời điểm núi lửa lịch sử phun trào dung nham quá nóng quá mạnh, chứ mãi về sau gần nửa thế kỷ, khi đất nước đang loay hoay xóa đói giảm nghèo, lo tụt hậu, ở khoảng cách rất xa so với những nước trước kia cùng xuất phát điểm với mình, tham nhũng tràn lan, đạo đức xuống cấp, văn hóa lộn xộn, dân chủ bị co hẹp… thế mà người đứng đầu đảng vẫn sung sướng tự hào “từ xưa đến nay, đất nước có bao giờ được thế này chăng”, “Quảng Trị đẹp nhất từ xưa đến nay”, “Dân chủ đến thế là cùng”… Đó là cái nhìn, cách nghĩ của anh binh nhì tập đội ngũ dậm chân tại chỗ chứ không phải của người đang làm chủ cuộc sống, chứ chưa nói gì ở vai trò cai trị nhân dân, lãnh đạo cuộc sống.
Chính thói kiêu ngạo cũng đã làm xói mòn phẩm chất đẹp đẽ từng có của người cộng sản. Đã có thời họ gắn bó với nhân dân, cùng vui cùng buồn, cùng chia bùi sẻ ngọt. Nhưng dần dần thói kiêu ngạo đã tách cá ra khỏi nước, kiểu như ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng hùng hồn tuyên bố “Nếu ta sai thì ta xin lỗi, còn nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Chắc nhiều người còn nhớ nhận xét nổi tiếng của bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, đại loại “dân chủ của ta còn dân chủ gấp vạn lần dân chủ tư bản”. Dạng “lời hay ý đẹp” như thế nhiều lắm, chả thể kể ra hết được.
Thôi thì, nói như nhà thơ Việt Phương “Ta đã thấy những vết bùn trên các vì sao”, chỉ ra vết bùn sự kiêu ngạo của “sao”, tôi chỉ có mong muốn họ lắng nghe, thực tâm gột rửa để ngày càng trở nên sạch sẽ, gần gũi với mọi người dân trên đất nước này.

Nguyễn Thông

Friday, February 16, 2018

Hoàng Phủ Ngọc Tường sắp chết vẫn nói dối

BS.Trần Văn Tích Hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan vốn bà con gần với tôi vì chúng tôi cùng có chung một ông cố, đó là Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng. Năm 1882, khi Henri Rivière đánh thành Hà nội thì Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết còn Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng thì tuyệt thực. Tuần vũ Hoàng Hữu Xứng là cố nội của Hoàng Phủ Ngọc Tường-Hoàng Phủ Ngọc Phan còn tôi thì gọi Ông là cố ngoại. Thân phụ cặp bài trùng Việt cộng ác ôn vì là con quan lớn nên được tập ấm, tôi gọi là cậu Ấm Hoàng Hữu Dực. Thời Pháp thuộc, cậu Ấm Dực làm xếp ga An cựu, Huế. Bài viết hôm nay tập trung vào một chi tiết duy nhất gạn lọc ra từ đoạn văn sau đây, mới được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới vào ngày đầu tháng hai này. Trích : “Để chứng tỏ mình là người trong cuộc, tôi đã dùng ngôi thứ nhất- “tôi”, “chúng tôi” khi kể một vài chuyện ở Huế mậu thân 68. Đó là những chuyện anh em tham gia chiến dịch kể lại cho tôi, tôi đã vơ vào làm như là chuyện do tôi chứng kiến. Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu …Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra ..”. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi.“ Hết trích. (Tôi tôn trọng cách trình bày về hình thức của tài liệu, nhất là những dòng chữ tô đậm trong nguyên văn.) Theo các chi tiết phổ biến trên internet thì Hoàng Phủ Ngọc Tường, 81 tuổi, hiện lâm bệnh nặng, đã đọc cho con gái chép lại lời y thành bài viết xuất hiện dưới đầu đề “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn“. Như đã báo trước, cá nhân tôi không đếm xỉa đến những lời thanh minh trần tình của tên Việt cộng sắp chết mà chỉ chú trọng vào lời kể của y, theo đó ở Đông Ba có một bệnh viện nhỏ bị máy bay Mỹ thả bom giết chết hai trăm người. Người viết đặt tiền đề như vậy làm giả thuyết – nghĩa là nêu vấn đề ra theo tinh thần khoa học để giải thích một hiện tượng ngoài đời hay trong tự nhiên nào đó (trong trường hợp này là vụ gọi là Mỹ thả bom giết hai trăm người ở một bệnh viện toạ lạc tại Đông Ba, Huế) – và tạm chấp nhận sự kiện liên hệ tuy chưa thể kiểm nghiệm, chứng minh hầu căn cứ vào đó mà phân tích, suy luận. * Những ai ở Huế lâu ngày đều biết đến các cơ sở điều trị quân dân y : Bệnh viện Trung ương Huế trên đường Lê Lợi cạnh dòng Hương giang, Quân y viện Nguyễn Tri Phương trong Mang Cá, nhà Hộ sinh ở Tây Lộc. Các khu vực Đông Ba, Gia Hội là những vùng buôn bán sầm uất, có nhiều phố xá nhộn nhịp, có nhiều nhà cửa dân chúng đông đúc. Không có khoảnh đất trống nào đủ rộng lớn để xây một bệnh xá hay bệnh viện nhỏ. Nếu Mỹ thả bom trúng bệnh viện mà chết ngay một lúc đến hai trăm người thì cơ sở khám bệnh và nhận người ốm đau nằm điều trị phải được trang bị ít nhất cũng năm mươi giường bệnh. Thế nhưng không người dân Huế nào biết đến hay nhận được công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định về y khoa phòng ngừa, y khoa chẩn đoán, y khoa điều trị dành cho số đông, có tổ chức thành nề nếp và có tiếng vang trong vùng; chỉ có bọn Vẹm từ trên rừng về là sưng sưng bảo rằng có một cơ sở y khoa như vậy! Vạn nhất nếu bom “đế quốc“ vô tình đánh sập bệnh viện, giết một loạt hai trăm người thì đám truyền thông cộng sản hay thân cộng tại sao đều câm như hến và mù tịt cả lũ? Chúng luôn luôn theo dõi rất kỹ các tội ác do “đế quốc Mỹ, kẻ thù của nhân dân ta và nhân dân thế giới“ gây ra cơ mà, đời nào chúng chịu ngậm câm nhắm mắt trước một vụ thảm sát lớn lao như vậy? Chúng chả rêu rao ầm ỹ vụ được chúng tuyên truyền là “giặc lái Mỹ“ ném bom xuống khu Khâm Thiên, Hà Nội gây tổn hại cho bệnh viện cận kề là gì? Chúng thổi phồng vụ chuồng cọp ở các trại giam Việt cộng tại Côn Đảo, Phú Quốc một cách vô liêm sỉ. Chúng láo khoét bảo phe quốc gia đã đầu độc hàng loạt tù hàng binh; sau ngày 30.04, lại cũng chính chúng trơ tráo sượng sùng công nhận là không hề có chuyện đó. Cái lối mô tả Mỹ ném bom giết hai trăm người ở Bệnh viện Đông Ba cũng cùng bài bản với lời tố cáo của nhà sư Thích Nhất Hạnh theo đó Mỹ thả bom giết ba trăm ngàn dân Bến Tre trong khi thực ra dân số toàn tỉnh Bến Tre chỉ có chưa đến một trăm ngàn người. Vả lại miệng lưỡi điêu ngoa của Việt cộng chuyên môn đưa ra những con số nạn nhân phóng đại một cách nham hiểm và tròn trịa một cách ngu ngốc. Lê Duẩn đã từng tuyên bố là “Mỹ Diệm“ lê máy chém đi khắp nơi chặt đầu năm trăm đảng viên cộng sản. Toàn là những con số tròn trặn tròn vo. Năm trăm của Lê Duẩn, hai trăm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ba trăm ngàn của Thích Nhất Hạnh! Tuy nhiên Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ biết ăn gian nói dối mà ăn gian nói dối một cách ngu xuẩn, u mê. Thoạt tiên cặp bài trùng đội lốt quỷ sứ họ Hoàng Phủ trút tội lên đầu Mỹ, chúng bù lu bù loa bảo pháo và bom của Mỹ giết đồng bào Huế nhưng đến khi đồng bào Huế và chứng nhân nước ngoài quan sát thấy các thi hài khai quật từ những hố chôn tập thể chỉ mang những vết thương bằng vũ khí đạn dược, thậm chí bị đánh vỡ sọ gãy tay, bị trói cánh khủy nằm chồng lên nhau, chứ không hề có mảnh bom hay viên đạn nào của Mỹ trong thi thể thì chúng thấy mình bị hố nặng. Thếnhưng biết bị hố thì trễ quá rồi, mặt nạ Satan Mephisto đã hiện guyên hình quá rõ. Ăn gian mà ngu, nói dối mà đần, phải chăng vì vậy mà cả Hoàng Phủ Ngọc Tường lẫn Hoàng Phủ Ngọc Phan đều coi như hoàn toàn thất sủng sau ngày 30.04 mặc dầu cả hai tên đều đã mang trên hình hài một thành án, một thiết án muôn đời không cởi bỏ được. * Mỗi con người đều là một thành viên của lịch sử. Quyết đoán về một nhân vật lịch sử là việc không phải dễ và càng lên tiếng mạnh mẽ càng hay rơi vào sai lầm. Mục đích nên nhằm khi nhìn lại quá khứ lịch sử là tìm hiểu một cách tương đối vô tư để nhận định cho chính xác, may ra sẽ rút được phần nào kinh nghiệm cho cuộc sống vốn rất dễ bị xáo trộn khuấy động do những sự bồng bột nhất thời có thể che khuất lương tri.. Dẫu sao đi nữa thì với kẻ thành tâm tìm hiểu việc nước, thái độ bình tĩnh nhận xét, tinh thần phân tích khoa học là những điều kiện thuận lợi để tới gần sự thật. Trước khi chết, Hoàng Phủ Ngọc Tường muốn gột rửa phần nào tội ác tày trời đối với đồng bào nhất là đồng bào Huế. Huế là nơi y chào đời, lớn lên, ăn học và giảng dạy. Cộng sản mà đứng trước ngưỡng cửa tử sinh thì cũng phải thấy là việc trọng đại. Biện pháp duy nhất chỉ có thể là đổ tội cho tha nhân, và dễ dàng hơn nữa, cho ngoại nhân. Bom Mỹ đã giết hai trăm đồng bào vô tội ở Đông Ba, Hoàng Phủ Ngọc Tường quả quyết một cách rất đần độn như vậy. Nhưng dữ kiện này, vẫn theo chính mồm miệng điêu ngoa của y, vốn xuất phát từ một tên Việt cộng khác; y chỉ nhập nhằng, lưu manh quơ vào cho mình. Làm sao y dám nhận xằng như vậy một khi chẳng có bằng chứng cụ thể, khách quan nào cả? Hoàng Phủ Ngọc Tường đã gian mà lại ngu. Sống thì gian và ngu, gần chết lại càng gian và ngu hơn. FEB 11, 2018 Trần Văn Tích

Sunday, February 4, 2018

VÀI LỜI VỚI ANH NGUYỄN CÔNG KHẾ VÀ BẠN BÈ

VÀI LỜI VỚI ANH NGUYỄN CÔNG KHẾ VÀ BẠN BÈ - HOÀNG HẢI VÂN Những điều tốt đẹp tôi viết về anh Nguyễn Công Khế trong những câu chuyện liên quan đến anh đã đăng trên báo Thanh Niên, trên blog và trên facebook này, giờ nếu phải viết lại thì một chữ cũng không thay đổi. Những người khác hiểu những bài viết đó như thế nào tôi không quan tâm, bạn bè tôi hầu hết hiểu đúng, dù có người phải đến 10 năm mới hiểu. Nhưng điều đáng buồn là chính anh Nguyễn Công Khế lại không hiểu thấu đáo được tư cách của tôi. Dù anh Khế chỉ lớn hơn tôi vài tuổi nhưng tôi chưa bao giờ coi anh là bạn bè. Tôi coi anh là một vị thủ trưởng đáng kính và giờ vẫn coi anh là một vị thủ trưởng cũ đáng kính. Anh có đầy đủ phẩm chất để tôi suốt đời kính trọng. Nhờ anh mà tôi đã phát huy hết khả năng của một người làm báo chuyên nghiệp ở báo Thanh Niên. Đó là ơn tri ngộ. Nhưng tôi không phải là “cánh tay”, không phải là “đệ tử” của anh. Anh tôn trọng tôi, nên cũng không hề có ý định biến tôi thành một công cụ như thế. Hồi anh còn làm báo Thanh Niên, nhiều khi sáng thức dậy anh gọi điện, bảo sao tôi cứ nhè bạn của anh mà “đánh” hoài thế, khiến cho họ chửi anh, anh nói là nói vậy chứ không hề bảo dừng lại không đăng bài phê phán bạn anh nữa. Nhiều phóng viên gặp chuyện này chuyện kia có hỏi tôi, rằng người này người kia thân với anh Khế, có viết bài phê phán được không. Tôi nhiều lần đã phải nói rõ, nếu vi phạm pháp luật thì dù có thân với ai cũng không bỏ qua. Tôi đã viết những điều tốt đẹp về anh, không phải vì cái ơn tri ngộ kia, mà vì muốn truyền một cảm hứng cho các bạn làm báo trẻ, rằng làm báo phải chính trực như thế. Cho đến gần đây. Tôi viết loạt bài “Sơn Trà ký sự” đăng trên báo điện tử Một Thế Giới. Tờ báo này được vận hành bởi Tập đoàn Truyền thông Thanh niên do anh Khế làm Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc (điều này có giới thiệu công khai trên trang chủ tờ báo). Có lẽ do không có điều kiện trực tiếp tìm hiểu vấn đề, loạt bài lại có nhiều đụng chạm, nên đăng 8 kỳ thì lãnh đạo báo yêu cầu dừng lại không viết nữa, trong 8 kỳ đó có gỡ xuống 1 kỳ. Tôi phản ứng kịch liệt với anh Khế. Anh bảo anh không biết. Anh có biết và có can thiệp để gỡ bài hay không thì tôi không rõ, nhưng tôi không có lý do gì để “sững cồ” lên với anh, vì anh đâu có phải là tổng biên tập tờ báo đó. Nhưng tôi có thể hiểu, anh lo cho sự an toàn của một tờ báo điện tử còn non trẻ, sự lo lắng đó là chính đáng, đã chấp nhận đăng được chừng ấy bài là quá tốt rồi. Không tiếp tục đăng những vấn đề tôi am hiểu về Đà Nẵng trên báo Một Thế Giới nữa, tôi viết bài đưa lên facebook này. Anh Khế không có quyền gì đối với tôi, nhưng từ khi tôi đưa stt Vũ nhôm và “thần tượng” Nguyễn Bá Thanh, anh Khế liên tục gọi điện ngăn cản. Tôi nghĩ anh lo cho sự an toàn của tôi là một chuyện, điều quan trọng hơn là anh vốn là bạn của ông Nguyễn Bá Thanh, anh không muốn người khác đụng đến một người bạn đã qua đời. Xin lưu ý là không chỉ anh Khế, mà ngay cả một số vị lãnh đạo tôi cho là chính trực của Đảng ở Trung ương trước đây vẫn đánh giá cao về ông Nguyễn Bá Thanh, bằng chứng là ông ấy đã được rút ra Hà Nội làm Trưởng ban Nội chính Trung ương và nghe nói có đề nghị vào Bộ Chính trị (nhưng không thành). Tôi tôn trọng tấm lòng của anh Khế đối với bạn, cũng như tôi tôn trọng quan điểm của anh Nguyễn Quốc Phong (cựu Phó Tổng Biên tập báo Thanh Niên), cũng là người thân thiết với anh Khế, khi anh ấy viết bài ca ngợi ông Nguyễn Bá Thanh sau loạt bài của tôi. Không muốn tôi viết những bài như vậy, anh Khế nhiều lần gọi điện nói khéo, rằng “tầm cỡ” của tôi phải viết những bài có “tầm cỡ” hơn, rằng tôi không nên viết những chuyện “lặt vặt” như thế. Tôi trả lời anh, tôi là thường dân, chẳng có “tầm cỡ” gì, tôi chỉ biết gì nói vậy thôi. Vì vậy, tôi vẫn cứ viết những gì tự tôi thấy cần phải viết, vì không “chạm” đến ông Nguyễn Bá Thanh thì những vấn đề của Đà Nẵng không bao giờ có thể giải quyết được rốt ráo. Và hôm qua, có một bạn link vào facebook tôi một bài viết trên mạng xã hội, nói rằng anh Khế đã sử dụng một “đệ tử” là tôi đây, để viết bài triệt hạ ông Nguyễn Bá Thanh và Vũ nhôm nhằm giúp cho ai đó “thâu tóm các dự án của Vũ nhôm”. Mục đích của bài viết này là công kích bêu xấu anh Nguyễn Công Khế và bảo vệ Vũ nhôm, nhưng chỉ riêng cái chi tiết bịa đặt trắng trợn này cũng đủ cho thấy toàn bộ những gì mà bài viết đó nêu ra đều không có giá trị. Tôi gọi điện cho anh Khế, anh bảo anh đã đọc rồi. Tôi không quan tâm người ta nói gì về tôi, càng không quan tâm đến những thứ fake news của bọn cóc nhái trên mạng xã hội. Nhưng tôi hơi buồn và hơi thất vọng, vì anh Khế có ý trách rằng do những bài viết của tôi mà bọn họ đã “đánh” anh ấy. Anh đã không giấu được tâm lý của một bề trên, khi buột miệng nói rằng tôi thì có gì để mà bọn họ “đánh”, tôi làm gì để bọn họ thù thì bọn họ chỉ “đánh” anh ấy thôi. Tôi thấy áy náy, nói để tôi viết một cái stt giải thích là những gì tôi viết không có liên quan đến anh, nhưng anh nói không cần. Không cần, mà vẫn oán trách. Tôi thấy thiệt là khó xử. Tôi tưởng lòng tôi bằng phẳng trước mọi thị phi. Nhưng khi tí tởn tham gia cái mạng xã hội này thì không thoát khỏi thị phi được. Những dòng này được viết ra chắc anh Khế không thích, nhưng tôi không thể không viết ra đây. Tôi không danh không tiếng gì, cũng không cầu danh cầu lợi, nhưng là một cá nhân độc lập, chỉ mong được ăn một ngày ba bữa bằng thu nhập lương thiện của mình, được làm những gì mình thích, viết những gì mình cho là đúng và tự chịu trách nhiệm về những gì mình viết. Ơn nghĩa thì không quên, nhưng lương tâm thì không thể không ngay ngắn. Mong anh Khế, người thân của anh Khế và những người tử tế hiểu cho, còn đám cóc nhái trên mạng xã hội kia thì mặc kệ đi ! HOÀNG HẢI VÂN

Friday, June 30, 2017

Cộng sản có đối thoại được không?

Mới đây trưởng ban tuyên giáo trung ương, uỷ viên bộ chính trị trẻ nhất trong số các uỷ viên bộ chính trị của cộng sản VN là Võ Văn Thưởng đã phát biểu.
 
“Ban Tuyên giáo Trung ương đang chờ Ban Bí thư thông qua một văn bản hướng dẫn về việc "tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đây là vấn đề rất quan trọng. Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý.
Phát biểu như thế này từ một uỷ viên bộ chính trị, trưởn ban tuyên giáo gây xôn xao dư luận là việc đương nhiên. Phần lớn những người mà ông Thưởng liệt kê vào dạng cần đối thoại đã tỏ ý nghi ngờ đằng sau phát biểu ấy là một âm mưu. Điều này cũng không có gì lạ, bởi trong quá trình hàng mấy chục năm cầm quyền, chuyện nói dối hoặc hứa rồi nuốt lời của lãnh đạo cộng sản xảy ra thường xuyên và cho đến tận bây giờ họ cũng đang như cũng vậy.
 
Các giả thiết đưa ra cho rằng đây là âm mưu lừa đảo, mị dân, khơi cho trăm hoa đua nở rồi tận diệt như bên Tàu. Cái này đúng, trước kia đúng và bây giờ vẫn đúng. Bằng chứng là chính lúc ông Thưởng đặt vấn đề như vậy, thì thực tế diễn ra ngay trong lúc ông nói là chính quyền gia tăng đàn áp những người bất đồng chính kiến bằng những thủ đoạn tàn bạo và nham hiểm mạnh tay hơn.
Hoặc có thể cộng sản Việt Nam dựng nên đối thoại nhằm mục đích biện minh và lấy uy tín cho mình, họ sẽ cho những người dễ dãi hoặc những chim mồi giả vờ tham gia đối thoại, sau đó công nhận đảng CSVN đang có hướng đi đúng, có thành quả này kia. Họ cũng nêu một chút gì đó để trách cứ chế độ cộng sản cho ra vẻ khách quan. Để rồi sau đó đảng CSVN tuyên truyền đã đối thoại thẳng thắn và được đa số ủng hô, tán thành chủ trương của họ. Còn một số khiếm khuyết do khách quan không đáng kể, nước nào cũng có sẽ khắc phục dần.
 
Nhưng tuy nhiên cũng nên thử đặt một cạnh nhìn khác, dù khả năng của nó chỉ chiếm một phần nhỏ nhoi hy vọng, đó là đặt vấn đề cho rằng ông Thưởng nói thật.
Vậy trong trường hợp nào thì ông Thưởng nói thật tâm.?
Trường hợp trong nôi bộ đảng cộng sản có những nhóm thực lòng muốn đối thoại với dân, để mong thế hệ lãnh đạo tương lai của cộng sản với người dân có những điều dễ gần hơn, dễ nói chuyện hơn, không có những khoảng cách như nhân dân và lãnh đạo bây giờ. Điều này có thể xảy ra vì cộng sản luôn tính trước những tình huống xấu dự phòng.
 
Ông Võ Văn Thưởng là uỷ viên BCT trẻ nhất trong các uỷ viên Bộ chính trị bây giờ, có thể nói ông là đại diện cho thế hệ lãnh đạo của hai nhiêm kỳ sau này. Bản thân ông Thưởng là người không có điều tiếng gì xấu so với các lãnh đạo khác, bởi những vị trí của ông đã kinh qua không phải là những vị trí dễ bị dính vào vòng xoáy của tham nhũng, lợi ích nhóm. Xét thêm yếu tố này cùng với yếu tố trước thì câu chuyện khả năng cộng sản Việt Nam có thể mong muốn đối thoại là có thật, nhưng nó không phải là bây giờ, và hơn hết nó chỉ là một phương án dự phòng của chế độ cộng sản cho tương lai.
Không phải phát biểu trên của ông Thưởng bị những nhà đấu tranh nghi ngờ và chỉ trích nặng lời, mà ngay cả những cán bộ của đảng lão thành, thủ cựu về hưu cũng như đang tại chức cũng khó chịu khi thấy ông Thưởng nói vây.. Với sự kiêu ngạo về quyền lực độc tài tuyệt đối của đảng CSVN có được nhiều năm qua, họ cảm thấy những phát ngôn của ông Thưởng là sự xuống nước của đảng, làm cho dân chúng không còn sợ đảng, mất đi sức mạnh của đảng , tức chính là mất đi quyền lực của họ.
Nếu như phát biểu này của ônng Võ Văn Thưởng xuất phát từ miệng ông Đinh Thế Huynh, Nguyễn Phú Trọng...chắc hẳn đó là sự lừa đảo, vì bản chất của những người như ông Trọng, ông Huynh là những kẻ bảo thủ đang cố gắng gia tăng quyền lực của đảng, bất chấp sự phi dân chủ và tiến bộ. Nhưng nếu từ một uỷ viên BCT trẻ tuổi như ông Thưởng, người cũng ít thấy dư luận phê phán ở những cương vị ông trải qua. Thiết nghĩ việc đề phòng cộng sản Việt Nam nói dối phải đặt hàng đầu, nhưng cũng nên để một góc nhỏ để suy ngẫm về những phát ngôn này theo hướng tích cực. Khi cộng sản Việt Nam đã đưa ra những biện pháp thuộc dạng đề phòng cho tương lai như thế này, chúng ta cũng nên cân nhắc vấn đề, dù không tin tưởng nhưng không có nghĩ người bất đồng chính kiến bác bỏ hoàn toàn, những người đấu tranh cũng nên đặt ra những tình huống dự phòng cho dù tỷ lệ hy vọng việc đó thành công là chỉ vài phần trăm.
 
Những người trí thức đấu tranh ôn hoà từng bị tù đày về bất đồng chính kiến với chế độ như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung , Lê Quốc Quân, Phạm Hồng Sơn và nhiều người khác ở trong nước có thể thống nhất với nhau để cử ra đại diện bất đồng chính kiến để đề nghị đối thoại với ông Võ Văn Thưởng xem thái độ và hành xử của vị uỷ viên Bộ Chính Trị, trưởng ban tuyên giáo này ra sao, đó cũng là một cách đấu tranh ôn hoà , dân chủ và tiến bộ. 
 
Nếu bị khước từ, hay bị những thủ đoạn cản trở thì đó cũng là cách lột mặt nạ gian dối của chế độ này cho quốc tế và nhân dân trong nước thấy rõ hơn.
 
-- Người Buôn Gió

Thursday, June 29, 2017

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI TRẺ, NHÂN PHIÊN XỬ MẸ NẤM

VIẾT CHO NHỮNG NGƯỜI TRẺ, NHÂN PHIÊN XỬ MẸ NẤM
by Pham Doan Trang



Ngày hôm nay, một phiên tòa chính trị đã diễn ra ở Nha Trang, nơi người ta xử một phụ nữ trẻ, mẹ của hai đứa con nhỏ. Đó là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, 38 tuổi.
Người ta không cho chị mặc chiếc áo trắng mà mẹ của Quỳnh gửi vào trại giam cho con. Người ta bắt chị phải mặc một cái áo phông không cổ, với những hình vẽ của trẻ con trước ngực.
Người ta chặn phố xá, chặn mọi ngả đường đến tòa. Nha Trang bỗng như trong tình trạng thiết quân luật.
Người ta không cho cả mẹ ruột của chị vào trong phòng xử án. Sau một hồi “đấu tranh” quyết liệt, mẹ chị mới “được phép” vào ngồi ở phòng bên cạnh, theo dõi phiên tòa qua màn hình.
Người ta từ chối tranh tụng với luật sư, từ chối trả lời các lập luận bào chữa của luật sư.
Và cuối cùng, người ta áp đặt cho Quỳnh một bản án với con số làm nhiều người sửng sốt: 10 năm tù.
* * *
Quỳnh là ai và đã làm gì để người ta phải căm thù chị như vậy?
Chị là một nhà hoạt động nhân quyền. Chị yêu đất nước, con người Việt Nam. Vì yêu mãnh liệt, nên chị mong muốn Việt Nam thay đổi, trở nên tự do và dân chủ, để người dân được sống hạnh phúc, những đứa con của chị được lớn lên trong niềm vui hồn nhiên của những đứa trẻ bình thường ở một đất nước bình thường. Chị mong muốn thiên nhiên, môi trường ở xứ sở này mãi xanh, biển mãi dồi dào cá, không khí mãi trong lành, và Nha Trang của chị sẽ mãi là một thành phố du lịch xinh đẹp bên bờ đại dương.
Chị không muốn con cái chị lớn lên ở một đất nước nơi mà chỉ cầm tấm biển “Cá cần nước sạch”, đã bị khép tội, hay thanh niên chỉ cần có dự định “ra nước ngoài học về xã hội dân sự” là đã bị cấm xuất cảnh, hoặc nếu đi được, thì trở về sẽ bị câu lưu ở sân bay. Chị không muốn Nha Trang ngập tràn những dự án cướp đất của dân, những du khách Tàu xì xồ thứ tiếng ngoại quốc, một thành phố đầy rác và bụi. Không muốn một đất nước ngột ngạt vì nạn công an bạo hành và tòa án bất công. Một đất nước với những rừng cây trơ trụi, những núi đá tan hoang, những vùng biển nhiễm độc, hiu quạnh bóng tàu bè…
Còn người ta là ai? Người ta là những đại diện của nhà nước này – những kẻ không chia sẻ tình yêu đất nước của chị Quỳnh, và cũng không muốn ai có tình yêu ấy. Suy cho cùng, bản án 10 năm tù mà người ta áp đặt cho Quỳnh hôm nay là để đe dọa, ngăn cản người dân Việt Nam yêu nước, hoặc yêu thương nhau.
Người ta không cần dân chúng phải yêu nhà cầm quyền, chỉ cần dân chúng đừng yêu nước và đừng yêu thương nhau, và tốt nhất là hãy nhìn vào mức án 10 năm đó mà sợ hãi hoặc tuyệt vọng, chán nản.
* * *
Nhưng, có ai sợ hãi, tuyệt vọng, chán nản không?
Có gì phải sợ, tuyệt vọng, buồn hay chán. Nếu chúng ta nhìn vào những việc Quỳnh đã làm, chúng ta sẽ chỉ thấy nổi lên một điều thôi: Tình yêu của Quỳnh dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Vì tình yêu ấy, nên cuộc đời chị đẹp lắm. Chị hiên ngang đứng giữa vòng vây công an và dân phòng ở Sài Gòn, giương cao khẩu hiệu: Vì một quốc gia cường thịnh, phải thay đổi! Chị cất cao tiếng nói đòi nhà nước pháp quyền, đòi xóa bỏ những điều luật hà khắc và vô lý như 258 Bộ luật Hình sự. Chị đến với những người dân nghèo mất đất, những nạn nhân của bất công và oan sai, để giúp đỡ họ về tinh thần và vật chất, và hướng dẫn họ đấu tranh. Chị bảo vệ quyền cho dân oan, cho những người bị chà đạp bởi một hệ thống hành pháp và tư pháp còn nhiều sai trái, bạo ngược.
Trên tất cả, cuộc đời chị đẹp bởi vì chị đã tranh đấu cho tự do, ngẩng cao đầu và không sợ hãi.
Này bạn. Nếu bạn cũng tranh đấu cho tự do của một đất nước, cho nhân quyền của người dân, cũng ngẩng cao đầu, vượt qua mọi nỗi sợ hãi như Mẹ Nấm – Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, bạn cũng sẽ cảm nhận được rằng cuộc đời đẹp lắm, tuổi trẻ của bạn đẹp lắm.
Ngày hôm nay, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh nói trước tòa: “Mỗi người chỉ có một cuộc đời, nhưng dù được làm lại con vẫn sẽ làm như vậy và con tin mẹ và các con sẽ không bao giờ phải hối hận mà sẽ tự hào vì con. Tôi mong muốn xây dựng một xã hội và đất nước tốt đẹp. Một quốc gia chỉ tự cường khi nó luôn gắn liền với nền tảng một xã hội mà người dân có tự do và hạnh phúc. Tôi mong rằng mọi người sẽ lên tiếng và đấu tranh, vượt qua nỗi sợ hãi của chính bản thân mình để xây dựng một đất nước tươi đẹp hơn”.
Những lời chị nói gợi nhớ đến “Bài ca của người hát trong ngục tù tra tấn” – tác phẩm để đời của thi sĩ tài danh của nước Pháp, Louis Aragon:
“Nếu phải đi trở lại
Tôi đi lại đường này
Một tiếng từ ngục tối
Nói đến những ngày mai”
“Nếu phải đi trở lại
Tôi đi lại đường này
Dưới gông cùm lửa sắt
Ca hát những ngày mai”
(Tế Hanh dịch từ tiếng Pháp)
Những năm tháng mà Như Quỳnh đã trải qua, cũng như bản án 10 năm tù kia, đều chỉ làm cho cuộc đời chị thêm đẹp.
Đấu tranh vì tự do cho cả một dân tộc – đó là một cuộc đời đáng sống. Phải không, bạn yêu mến?

Tuesday, May 16, 2017

Nước mất, hãy tìm nước, chớ tìm cha

Ngược dòng lịch sử : Tượng đài cha và con và dòng chữ : "nước mất, hãy tìm nước, chớ tìm cha".
Đó là tượng Nguyễn sinh Sắc lão nhân gia và người mà ai cũng biết, con trai của lão nhân gia.
Về con trai người thì ai cũng biết, tôi xin kể anh chị nghe về Sắc lão nhân gia, bố của người, mà thôi.

 Image may contain: 2 people, people standing

Sắc lão nhân gia học đéo giỏi, thi lẹt đẹt, và được đỗ vớt. Sở dĩ được đỗ vớt, là do bác Dục ( Cao Xuân Dục thượng thư bộ học ) vớt lên, tại sao vớt, à, là do trả ơn thày dạy, mà thày dạy bác Dục, chính là bố Sắc lão nhân gia người vừa đc vớt .( Hồ sĩ Tạo, tại sao anh họ nguyễn mà bố lại họ Hồ, đó là 1 câu chuyện khác ) 
Sắc lão nhân gia dưới phân 2 thằng khác, để vớt lão nhân gia, thì phải vớt luôn 2 thằng kia, thế là 3 anh nghênh ngang áo mũ như ai.

Sở dĩ 2 thằng kia được áo mũ vênh vang về làng, cũng là nhờ công Dục lão anh hùng, lão anh hùng muốn con trai của thầy mình rạng danh làng xóm, mới xin vua ban cho áo gấm, chứ bọn đỗ phó bảng trước là đéo có.  Phó bảng, tức là bảng phó aka bảng phụ.  Bọn đỗ xịn, được ghi tên ở bảng chính treo 3 ngày ở ngọ môn, bảng to màu mè đẹp quá. bọn bảng phó méo mó nhỏ hơn, chữ nhỏ hơn cũng, treo 3 canh giờ thì hạ mẹ luôn.
À trong đống đỗ vớt đó có Phan chu Trinh lão anh hùng lừng danh cũng.  Bọn phó bảng, theo tôi cũng đéo có vị cặc gì. 

Sắc lão nhân gia về kinh, thời điểm này, anh hay bú diệu và đấm vợ, vợ anh ốm đau, quy tiên dịp này. 
Tôi thì cho là anh đc nâng đỡ về kinh đô học trường quốc tử giám, trường hoàng gia, bọn xịn chọc ngoái anh, anh cú đéo làm gì đc về nện vợ, chốn quan trường chúng nó mỉa mai đá đểu nhau kiếp lắm, là tôi đoán thế thôi. anh đc bổ làm thừa biện bộ Lễ, chức bé như hạt vừng từ 1902 - 1907.
Sau đổi anh về làm tri huyện Bình Khê ( bình định), 1 huyện nổi tiếng mất nết, chắc anh chị biết băng cướp dạo hồ thơm lừng danh ?? 
Lúc này, bi kịch bắt đầu, sử Việt nói anh treo ấn từ quan ahihi, lòng người sao quá điêu ngoa, có cái cc ý mà treo ấn.

Thời điểm này kinh tế đi xuống, vua mới tăng thuế đinh hay điền đéo nhớ, thì có 1 lũ ngu phản đối sắc thuế, chúng ra của quan, hò hét ỏm tỏi. ( hao hoa giống lũ cẩu ra cổng ủy ban đòi người hôm qua ở nghệ an).
Quá đen cho chúng, Sắc lão nhân ra là người đéo nói nhiều, anh thét lính, tóm cổ 1 thàng cứng đầu nhất, oánh cho má nhìn hổng ra.  Rất đen cho anh, thàng đó về chết như 1 con chó chết, lưỡi lè ra.
Rất đen nữa, người nhà nó có thằng biết chữ, chúng kiện vượt cấp. ( cần nhớ ngày xưa, kiện vượt cấp giam 10 ngày đánh 100 roi, rồi mới xét đơn ) Rất đen nữa, Sắc lão nhân gia lúc đó máu đầy cồn, thì anh lúc đéo nào chả diệu hehe triều đình tra xét là anh có cồn. Lại rất đen nữa, làn sóng phản đối thuế lên mạnh, Vua chọn anh để tế thần an - dân, anh bị kết tội : " trảm giam hậu" aka giam chờ chém.
Lại nhờ thượng thư bộ Dục hóng hớt đc tin, báo anh trước khi lính triều đình về tóm anh, cần nhớ hồi đó đéo có phôn khôn, Thượng thư bộ học cao xuân dục hóng hớt đc sớm hay quá.
Sắc lão nhân gia vắt chân lên cổ, chuồn khẩn, giờ kêu bằng trốn nã. anh lặn 1 hơi vào xứ đông - pháp aka Nam kỳ, thời đó là đất của Pháp theo thỏa ước với vua Annam.
Rất đen cho Sắc lão nhân gia, trong thỏa ước, có điều khoản dẫn độ tội phạm, lão nhân gia phải trốn chui nhủi nay đây mai đó, rất là cực. 
Sử đề lão nhân gia bốc thuốc cứu người thời gian này, tôi cho là phịa, lão nhân gia đéo có trình thuốc, chỉ có trình diệu, nghề của anh là viết sớ dạo, thế thôi, vì anh phải di chuyển liên tục trốn nã.
Rồi anh dược gả 1 cô vợ trẻ, đẻ vài con, và tiên du giá hạc khi già, anh trốn nã thành công, chúc mừng anh.
Bọn triều đình thối nát thời đó có nhiều việc, chúng quên anh hehe may mắn làm sao. 
Dòng chữ : " chớ tìm cha " là vô cùng chuẩn, vì có tìm, cũng đéo biết đàng con cặc nào mà tìm vua trốn nã. 

Mình vui thì mình gõ thôi không có ý gì đâu.
Mong Đảng, chính phủ cho tôi cái nhà sơn xanh xí xổm đầu hồi tam cấp ko thò ra phố, tôi xin lâu lắm rồi đó mong chính phủ cấp nhanh để tôi yên tâm biên lách.
Mong lắm thay.
( bài biên sử dụng tham luận của hình bộ thượng thư trai súc Phong lão huynh đài )

Saturday, August 13, 2016

Có một bông hồng cho đêm Giáng sinh - Dương Nghiễm Mậu


Có một bông hồng cho đêm Giáng sinh

Anh Nguyễn bỏ chúng tôi lại, anh không nói gì, anh đi xa mãi phía bên kia gốc thông lớn, cho tới khi đứng giáp khoảng đất trống với sườn đồi dốc phía sau, anh ngừng lại. Anh dang rộng chân vừa bước vừa đếm cho tới gốc thông thì anh dừng lại, ngửng lên nhìn chúng tôi và nói :
- Khoảng mười tám thước, rộng quá.
Anh Nguyễn có vẻ hài lòng khi trở lại, anh chỉ sang nền nhà, công việc còn dở dang :
- Chịu không, nhà tôi đó, nhà vợ chồng cậu thế này, tôi dự định cho tới giáng sinh sang năm thì tôi dọn sang nhà mới.
Tôi nhìn sang Lam :
- Chịu không?
Lam mỉm cười sung sướng :
- Chịu.
Nói hết câu Lam cười thành tiếng. Anh Nguyễn giọng đùa giỡn :
- Chịu từ lâu rồi phải không?
Anh Nguyễn chưa ngừng lại với câu chuyện làm nhà mà anh dự tính, anh kéo chúng tôi vào trong, nơi tận cùng của vạt đất, phía dưới là sườn đồi dốc, thung lũng đã được khai hoang từ lâu, nơi đó những thửa rau vuông vức, những vạt vườn xanh, những khoảng như mới bắt đầu một vụ mới với màu đất nâu tươi. Dựa lưng vào sườn đồi bên kia, không xa bao nhiêu, mấy ngôi nhà ngói nhỏ xinh xắn, màu ngói còn tươi và những hàng cây trồng còn thấp.
Giọng anh Nguyễn vẫn ở bên, niềm vui như reo mừng trong tiếng nói :
- Tôi quyết định lên đây, chấm dứt tình trạng không nhà cửa. Phải có một cái gì của mình chứ, đây, cậu thấy không, ngôi, nhà đến đây, khoảng này mình trồng đào, mận, vạt đất bên trồng rau, có sân chơi cho trẻ em, tôi thấy đây là đất lành mình có thể định cư được.
Tôi như lây niềm vui với người bạn lớn tuổi. Vừa đặt chân lên Đà Lạt, tới thăm anh Nguyễn, anh đã giữ chúng tôi lại, lấy xe chở chúng tôi lên khoảng đất anh mới mua được để cất nhà, không những thế, anh còn muốn chúng tôi cũng lập nghiệp và làm nhà ngay bên nhà anh, trong vạt đất anh có, anh Nguyễn nói: rộng quá, muốn có cậu ở cho vui. Trên xe tới khoảng đất đã được rào lại, một nền nhà đã thành hình, anh nói cho tôi và Lam thấy những dự tính của anh, nào kiểu nhà, làm nhà gỗ hay nhà gạch, phải làm thế nào. Anh làm cho tôi có cảm tưởng rằng tôi đã quyết định lên thành phố trên cao này lập nghiệp. Anh nói: Thấy cậu lấy vợ ta mừng quá. Bây giờ phải lo nhà cửa đi. Câu chuyện cứ như thế miên man không ngừng lại được, một ngôi nhà trên đồi, đó cũng từng là giấc mơ của tôi, phải, đó là một giấc mơ mỗi khi tôi lên đây nghỉ thường niên. Nghĩ đến một ngôi nhà cho riêng mình, tôi thấy quá xa vời. Cuộc sống bấp bênh, đời quân ngũ khiến cho tôi có lúc thấy như không có một thời cho mình xây dựng. Tôi nhìn Lam và thương nàng vô hạn. Lam biết rõ đời sống của tôi nhưng tình yêu đã giúp chúng tôi thoát vượt những khó khăn để sống bên nhau. Một ngôi nhà nơi đây, dưới những ngọn thông cao, bên những hàng rào đầy hoa, cùng với người bạn mình, hẳn đó cũng là mơ ước của Lam. Giọng anh Nguyễn lớn tiếng :
- Mấy cây đào mình trồng mới hơn ba tháng mà hy vọng lắm, không chết một gốc nào.
- Nhưng bao giờ thì có trái?
Anh Nguyễn nghiêm mặt lại :
- Thì cũng phải có thời gian chứ, cậu làm như trồng hôm nay mai đã có trái, bởi vậy mình phải xúc tiến sớm, bao giờ cậu bắt đầu?
Tôi nhìn Lam, Lam nhìn tôi, chúng tôi đều mỉm cười :
- Ít ra thì cũng phải mùa hè.
- Lâu thế...
- Anh làm như muốn thì được.
- Trời ơi, tận mùa hè lận.
- Thì Lam còn phải dạy hết niên học này, rồi tôi còn ở trong quân đội... Mà Lam xin đổi cũng khó lắm chứ đâu dễ.
- Ừ nhỉ, kẹt...
Anh Nguyễn nhìn bọn tôi và cười :
- Nhưng chắc chắn chứ?
Tôi gật đầu như quả quyết :
- Chắc chắn, bọn tôi sẽ dựng một cái lều tranh...
- Một cái lều tranh hai trái tim vàng, nghe mùi ghê.
Anh Nguyễn cười lớn, chúng tôi trở về thị trấn lúc bấy giờ chiều đã xuống, sương lam dày đặc dưới những thung lũng. Tới chợ chúng tôi chia tay nhau. Anh Nguyễn dặn :
- Tôi để cho hai vợ chồng tự do, nhưng tối mai phải lại, nhớ nghe.
Lam nói dạ, anh Nguyễn vẫy tay trước khi cho xe chạy xuống con dốc lớn. Lam nói :
- Bạn của anh vui thật, làm như mai bọn mình đã ở trên này. Anh ấy tốt quá nhỉ...
Tôi cầm lấy tay Lam và qua đường. Nền trời sẫm, dãy phố cũ bên kia lẩn vào trong bóng tối của hàng cây. Trời lạnh khô, những cơn gió mạnh thổi tờ giấy trắng là là trên mặt đường dốc. Tôi nắm chặt tay Lam :
- Mình đi ăn chưa?
- Em thấy đói rồi.
Chúng tôi bước vào nhà ăn quen thuộc. Bữa ăn đơn giản với những món ăn thích hợp cho miền lạnh: canh cải nóng, thịt đông dưa chua và một món rau xào. Tôi nhìn Lam nói :
- Lên trên này làm anh nhớ tới quê ngoài Bắc, mùa đông rét buốt, mùa xuân rét ngọt... Bao giờ hòa bình thống nhất bọn mình sẽ về ngoài đó...
Lam mỉm cười, nụ cười quen thuộc, chừng như mỗi lần tôi nhắc đến quê hương, nhắc tới Hà Nội là tôi lại thấy nụ cười đó trên môi Lam, và thường bao giờ Lam cũng nói: anh chỉ nghĩ đến quê anh, còn quê em, anh không yêu quê em phải không? Em về chơi thôi, không về ở ngoài đâu, em ở trong này một mình cũng được. Quê hương, mẹ hiền, tôi không lúc nào không tưởng nhớ đến. Một giây phút khí hậu xao động đổi thay, một đọt nắng trên ngọn cây, một món ăn, một con đường thường nhắc nhở tôi tới một thời đã xa, quê nhà, mái ngói nâu yêu dấu, mẹ hiền và một thuở thanh bình hiền dịu trong đời sống ấu thơ ngọt ngào. Đôi mắt Lam mở lớn nhìn tôi :
- Hôm nào mình khởi công làm nhà anh?
Tôi cười :
- Để còn phải coi ngày nữa chứ, và nhất là phải vẽ kiểu nhà, thôi anh giao cho em đó.
- Thế mình làm mấy tầng?
Tôi gật đầu như suy nghĩ :
- Thôi mình cất một tầng cho thân mật, nhà rộng quá ở sợ ma chết.
- Thôi mình cất nhà tranh đi.
- Cũng được.
- Nhưng bây giờ mua tranh khó và đắt tiền lắm...
- Thôi, vậy để tính sau vội gì.
Tôi nói hết câu, hai đứa cười ồ, chúng tôi thú vị với trò chơi.
Khi ra khỏi quán ăn, đèn đường đã bật sáng, những ngọn đèn quanh hồ tạo thành một vùng ánh sáng xanh biếc. Khu phố chợ vắng người. Trên đường chỉ còn lại những người đi dạo, chừng như đó là những người khách từ nhiều nơi xa tới trong dịp lễ Giáng Sinh, còn lại, những người của thị trấn đều đã rút vào trong những cánh cửa đóng kín. Chúng tôi đi xuống phía hồ. Giọng Lam êm nhẹ :
- Nhất định mình sẽ lên trên này lập nghiệp nghe anh, khí hậu ở trên này làm cho má con nít lúc nào cũng đỏ hồng.
Tôi giữ chặt tay Lam :
- Em sẽ đi dạy, anh làm vườn được không, nhưng bao giờ...
- Vậy mà xưa kia anh nói, năm nay...
Không còn bộ quân phục trên người, nhưng để có những ngày nghỉ cuối năm, tôi phải có tờ giấy phép. Tờ giấy nhắc nhở những ràng buộc khe khắt. Ra đi đúng ngày, trở về đúng ngày, chúng tôi phải thu xếp lấy cuộc sống trong những giới hạn. Giải ngũ, mấy năm trước tôi như mơ hồ nhìn thấy, giải ngủ, hòa bình đến, nhưng điều ấy vẫn chưa là sự thực. Câu chuyện về một dự định tương lai bỗng làm xuất hiện một mơ ước chưa thành. Tôi an ủi Lam :
- Chẳng lẽ đánh nhau mãi, rồi phải có hòa bình chứ, khi chúng ta có con thì chắc có hòa bình rồi.
Lam đi sát vào tôi. Ánh đèn làm sáng lên những khoảng nhỏ thiên nhiên, cảnh vật như trong một giấc mơ êm dịu. Tôi muốn nói lời chịu ơn Lam. Trở lại thị trấn trên cao, hạnh phúc ngọt ngào nhắc tôi những kỷ niệm cũ, những kỷ niệm cô quạnh trong những ngày nghỉ cuối năm ở đây, nơi tôi thường tới mỗi năm. Năm nào tôi lang thang với Dũng trên chiếc xe gắn máy cũ, hai đứa đua nhau lên Suối Vàng, đường dốc xe chết máy, ngồi nghỉ trên nghĩa trang chúng tôi đi lần theo hàng mộ bia đọc tên những người đã chết. Nơi đây Dũng đã bật khóc khi đứng trước mộ Dung, người tình cũ của Dũng, tôi nhớ tấm ảnh tươi cười của người đã khuất. Dũng nói: tôi đâu biết nàng đã chết. Dũng khóc nhắc lại những trắc trở trong cuộc tình duyên và sự mất tích của Dung trong thành phố. Dũng ngồi lặng im cho đến khi chiều xuống mới trở về và chúng tôi say trong quán rượu. Năm nào tôi ngồi với Tâm trong phòng vẽ. Ngày nào tôi với Niệm lang thang trên những đồi cỏ may hồng. Năm nào, những cơn mưa tầm tã giữ tôi lại suốt trong tuần lễ, khi lên xe trở về thì trời hửng nắng. Khí hậu lạnh, thiên nhiên tươi mát là nơi tôi chọn cho những giây phút nghỉ ngơi. Nhưng năm nay, một đổi thay chờ đợi đã đến. Lam đưa đến cho tôi những ngày mới. Nhưng mơ ước hòa bình từ bao giờ vẫn chưa đến...
Chúng tôi ghé vào nhà Thủy tạ, nhạc êm dịu ấm cúng, những cửa kính mờ hơi nước. Lam muốn ngồi ngoài trời, nhưng gió lộng và sương ẩm khiến chúng tôi phải bỏ ý định. Một ly cà phê nóng, một ly trà nóng, vắt chanh vào trong ly, mùi chanh thơm nồng, Lam nói :
- Anh định làm nhà trên này thật sao?
Tôi cười :
- Làm, nhưng chưa.
- Vậy anh phải nói với anh Nguyễn chứ, hình như anh ấy yên chí bọn mình sẽ làm nhà, sẽ lên đây ở.
- Anh Nguyễn muốn mình ở chung với gia đình anh cho vui, anh ấy cũng biết, anh mong có một ngôi nhà.
Ngụm cà phê thứ nhất, điếu thuốc mới. Anh Nguyễn, một trong vài người bạn vong niên của tôi, những người đã giúp tôi sống trong nhiều năm nay, tình bằng hữu đùm bọc cưu mang đã giúp tôi giữ được đời sống mình. Trước khi chúng tôi làm lễ cưới, anh Nguyễn trở về thăm tôi. Anh xin lỗi không thể về dự đám cưới, nhưng anh trông chúng tôi sẽ lên chơi ít ngày. Anh Nguyễn cười cười bảo: Bọn nó nói cậu giàu lắm. Tôi cười: Anh tin. Anh Nguyễn giọng nghiêm: Bọn nó nghĩ cậu đi ăn cướp đó. Trước khi về anh cho tôi tiền, anh nói: Cho bọn cậu một ít làm vốn bán bánh mì xe. Nhưng anh cũng không quên: Lên đi, có việc hay lắm, lên mới tính được. Tôi không nghĩ khi lên anh sẽ nói chuyện làm nhà. Một mái nhà, chắc không phải ước mơ của riêng tôi. Sau bao năm bỏ quê hương, tôi thấy mình thiếu hẳn nơi để trở về, tôi mơ ước một lúc nào đó lên cao nguyên khẩn hoang, làm cho mình một mái nhà vì tôi hiểu rằng: giấc mơ trở về quê hương có lẽ đời tôi không thực hiện được. Mà đến đời con tôi, khi trở về nó còn nhận được ra đâu là lối đi tôi đã bước qua, ngôi nhà nào tôi đã được sinh ra và lớn lên, cho tới khi ấy, còn không dấu vết của một thời đã xa lắc, biệt tăm trong trí nhớ những người sống sót. Khi trở về, con đường hoàn toàn vắng vẻ, ngang qua một hàng rào, tôi ngừng lại với tay bẻ cho Lam một cụm hoa tầm xuân, mùi thơm hoang dã nồng nàn. Tôi nói :
- Biết đâu mùa hè này mình lại không thể lên đây làm ngôi nhà bên cạnh nhà anh Nguyễn, sớm mai thức dậy, hòa bình đã đến...
Lam giữ chặt tay, nàng nhìn tôi, trong bóng đêm tôi thấy đôi mắt Lam long lanh sáng như một ngôi sao lạc trong nền trời tối.
Vợ chồng tôi là những người khách thứ nhất, anh chị Nguyễn chạy lên chạy xuống lo bữa ăn tối cho chúng tôi. Anh Nguyễn nói :
- Có mấy người bạn thân thôi, lâu lâu có dịp gặp nhau chứ mình đâu có theo đạo.
Anh Nguyễn rót cho tôi một ly rượu. Lam xuống bếp giúp chị Nguyễn, mấy người bạn của gia đình anh Nguyễn dần dần đến đông đủ. Chúng tôi không phải là người Thiên Chúa giáo bữa ăn đêm Giáng sinh mang một ý nghĩa khác, nhưng có lẽ cũng giống với những gia dinh Thiên Chúa giáo phần nào, bữa ăn của xum họp. Bữa ăn vui và ngon miệng. Chúng tôi nhận được những lời chúc mừng thân thiết. Lam có lúc ngượng ngùng, mặt đỏ, đôi mắt cuống quít khi chị Nguyễn mong cho tới Giáng sinh sang năm chúng tôi có cháu bé. Chúng tôi ra về sớm nhất, tôi nói :
- Bọn tôi muốn đi chơi đêm.
Anh Nguyễn cười :
- Phải rồi, bây giờ còn đi chơi được chứ ít năm nữa thì hết, như bọn tôi.
Anh Nguyễn ngừng lại, chợt anh nói :
- Quyết định về cái nhà chưa?
- Rồi, quyết định rồi.
Anh Nguyễn im lặng, vẻ mặt như chờ đợi, tôi nói :
- Anh chờ cho đến mùa hè được không, bây giờ thì chịu, hay là...
Tôi ngừng lại giây lát :
- Nhưng thôi anh ạ, để sang năm lên ở với anh chị, nhà cũng rộng mà...
Anh Nguyễn cười :
- Ừ cũng được, Giáng sinh sang năm thì mình có nhà mới rồi, lên nghe...
Chúng tôi rời nhà anh chị Nguyễn. Trên những con đường dẫn tới giáo đường chính dòng người đổ như thác, tất cả mọi người như đã mở rộng một tấm lòng chào đón, chúng tôi ở trong dòng người tới giáo đường. Bông hồng đỏ chị Nguyễn tặng Lam có lúc phải đưa lên cao, Lam sợ bị dập vì người chen chúc. Đèn sáng cả một vùng giáo đường, khoảng sân nhỏ như nêm, khi lễ giữa đêm bắt đầu, tiếng hát từ trong giáo đường như làm cho mọi tiếng động lẩn trốn, cả thiên nhiên cũng như đang chan hòa một niềm hy vọng.
Giọng Lam ở bên :
- Anh biết em cầu nguyện gì không?
Tôi nhìn Lam, khuôn mặt rực rỡ :
- Anh nghe thấy, anh nghe thấy.
Đôi mắt Lam ngước nhìn lên cao, tháp chuông với ngôi sao kết đèn sáng rỡ, trên cao đó, chỉ có ánh sáng.
Khi trở về, đứng nơi dốc vắng, nhìn lại giáo đường, chúng tôi vẫn thấy ánh sáng rực rỡ ở đó. Tôi mua cho Lam một quả bóng đỏ. Lam cột bông hồng của chị Nguyễn vào sợi dây, nàng giơ cao lên nói :
- Em muốn tặng bông hồng cho những người ở xa, những người ít may mắn...
Tôi mỉm cười, Lam thả tay ra, trái bóng lên cao rồi từ từ bay theo chiều gió mang bông hồng đỏ. Chúng tôi nhìn theo cho tới khi trái bóng và bông hồng lẩn vào trong bóng tối ở xa...

Trên đường dài - Dương Nghiễm Mậu


Trên đường dài

Nàng vừa bước lên khỏi cửa, chiếc xe đã vọt chạy, nàng kêu lên sợ hãi, hai tay giữ chặt lấy thanh sắt vịn gắn trên trần xe, tôi nhìn thấy nàng với nét mặt tươi cười nghịch ngợm. Xe bắt đầu chạy êm, nàng men theo những dãy ghế, nhìn khắp xe chỉ còn một chỗ bỏ trống ngay bên tôi, ở phía trong, chiếc ghế của một thanh niên đã xuống ở dọc đường khi xe ghé vào thị trấn phía sau. Tôi mỉm cười và đổi chỗ ngồi sát vào phía cửa xe. Khi nhìn lên tôi thấy nàng mỉm cười và đang bước lại. Nàng nói :
- Cám ơn anh.
Tôi mỉm cười không nói gì nhìn ra ngoài cánh đồng, mùa lúa vàng trải rộng với nắng rực rỡ và bầu trời xanh trong. Xe chạy mỗi lúc một nhanh hơn trên quốc lộ phẳng phiu, hai bên không có một làng xóm, thỉnh thoảng có một chuyến xe chạy ngược chiều với tiếng còi mất nhanh như một tiếng nhấn. Buổi chiều này tôi đã có mặt ở Sài gòn, tôi hình dung tới phố xá vào chiều thứ bảy sau một tháng xa Sài gòn với những ngày dài lang thang nơi những thôn xóm trong vùng châu thổ. Lòng xe không có tiếng người, một số đang thiếp ngủ với chuyến đi mệt nhọc, những người thức như đang mải nhìn cánh đồng lúa ngoài cửa xe. Thiếu nữ ho vì sặc khói thuốc, tôi nhìn lại, nàng đang mở chiếc ví lấy chiếc khăn tay trắng ra chấm lên mắt, đôi bàn tay trắng với những ngón dài với móng tay hồng ửng như những búp hoa, chiếc nhẫn cưới nhỏ làm cho tay nàng có một vẻ đẹp giản dị. Nàng bỏ khăn xuống, nhìn lên lấy một bàn tay quạt trước mặt như cố gắng đuổi những làn khói thuốc từ phía trước tạt xuống, khói thuốc lá đen làm cho tôi cũng thấy khó chịu muốn ho. Tôi nói :
- Cô có muốn đổi chỗ không?
Thiếu nữ nét mặt hơi nghiêm lại :
- Khói thuốc tôi không quen, có phiền anh không?
- Không, tôi quen với khói thuốc.
Nàng cười :
- Anh cũng là dân ghiền...
- Dạ, tôi ghiền nặng...
Tôi vừa nói vừa gật đầu. Tôi dợm người đứng lên, nàng vội vàng cầm lấy cái ví rồi đứng lên ra ngoài cho tôi ra trước khi nàng đổi vào ngồi trong ghế sát cửa xe. Nắng bắt đầu hắt vào xe khi con đường đổi chiều. Tôi nói :
- Tôi biết ngồi ngoài sắp bị nắng.
Thiếu nữ gúc đầu, mắt mở lớn :
- Anh thuộc từng khúc đường.
- Tôi là bạn của những con đường.
Thiếu nữ cười. Tôi nghe thấy tiếng cười nhỏ của nàng :
- Sao cô lại cười?
- Tôi tưởng đó là một câu thơ.
- Tôi không phải là thi sĩ.
- Vậy chắc anh có nhiều bạn đường lắm.
- Dạ...
- Như vậy chắc cũng nhiều bạn đường đời lắm.
Nói hết câu nàng ngoảnh mặt ra ngoài cửa xe, tôi mường tượng tới nét mặt tươi cười nghịch ngợm của nàng.
Tôi không nói tiếp lấy thuốc ra hút. Như ngửi thấy mùi thuốc nàng quay lại, vẻ ngạc nhiên. Nàng nói :
- Mùi diêm thơm phải không anh?
- Nó giống mùi pháo...
- Pháo, tôi không biết mùi pháo...
- Em đi pháo đỏ rượu hồng. Em đi lấy chồng...
- Anh lại làm thơ?
Tôi cười :
- Cô không biết pháo đỏ rượu hồng sao?
- Không, tôi không biết.
- Tôi không tin.
Đôi mắt nàng tình tứ im lặng. Xe chạy qua một cây cầu đang được sửa chữa. Khi xe qua khỏi cầu nàng nói :
- Anh biết pháo đỏ rượu hồng?
- Tất nhiên.
Thiếu nữ nhìn tôi rồi nhìn sang tay tôi, tôi như biết ý cố để lộ rõ hai bàn tay ra ngoài.
- Tôi biết cô muốn tìm kiếm cái gì.
- Anh biết tôi tìm gì?
Tôi đưa tay vào túi áo lấy ra một cái ví, tôi cầm lên nói :
- Nó ở trong này.
- Cái gì ở trong này?
- Cái cô tìm kiếm.
- Không, tôi chẳng kiếm gì cả.
Tôi bỏ ví vào túi và tiếp tục hút thuốc. Chuyến xe chạy nhanh trên lộ trình còn lại. Tôi cười với câu chuyện bâng quơ vừa diễn ra với người bạn đường. Những di chuyển liên tục, nhiều quãng đường quen thuộc tới nhàm chán đã khiến cho những lần di chuyển của tôi nhiều khi trở thành sốt ruột, những con đường của lần di chuyển thứ nhất, hoặc thứ hai như ngắn lại với những mới lạ chung quanh, nhưng sau đó, nó trở thành thường và nó không còn làm tôi chú ý tới. Tôi mong cho sớm, cho mau tới nơi đã định. Nhiều chuyến đi tôi ngủ liên miên trên dọc đường và có khi người phụ xe phải nhắc tôi khi tới bến. Và để cho thời gian mau hết, con đường ngắn lại, tôi thường bắt chuyện làm quen với những người cùng trên một chuyến đi, những câu chuyện dọc đường nhiều khi làm tôi ngạc nhiên, có người đã bỏ hết lộ trình để cùng đi với tôi. Nhưng tôi chưa gặp một người thiếu nữ nào có vẻ tinh nghịch như chuyến trở về này. Mái tóc dài vấn để lộ vòng cổ cao trắng ngần, dáng người thon nhỏ trong chiếc áo dài màu xanh lam, màu áo đậm đó càng khiến cho da nàng trắng thêm.
Xe đã tới chiếc cầu chạy một chiều, xe dừng lại chờ đợi, hàng quà bánh bu lại nơi những cửa xe. Tôi với người ra mua một gói mía, nàng cũng mua một gói. Tôi nghĩ hẳn nàng sợ tôi mời ăn chung. Tôi nói cho có chuyện khi thấy những trái thơm được đưa lên cao và lời mời chào :
- Thơm ở đây ngọt lắm, cô có thể mua làm quà.
- Dạ, sao anh biết rõ thế.
- Tôi đã nói rồi: tôi là bạn của những con đường mà.
- Vậy anh có bao giờ gặp bạn đồng hành như tôi không?
- Có, nhưng thường thì họ xuống ở dọc đường, không ai đi tới cuối đường như cô.
- Anh nghĩ tôi đi tới cuối đường?
- Vậy cô sẽ xuống ở dọc đường sao?
Nàng không nói, mỉm cười vẻ tinh quái.
Xe đã bỏ những người bán hàng lại, người phụ xe nhấc hành khách tắt thuốc không xả rác xuống cầu. Khi xe đổ dốc ở phía bên kia, tôi nói :
- Cô có biết cây cầu vừa qua có bao nhiêu cột sắt không?
- Không, anh biết có bao nhiêu?
- Bốn mươi hai.
- Tôi không tin anh đếm đúng.
Nàng nhìn sang tôi vẻ hoài nghi. Tôi nói :
- Không tin tôi xuống xe với cỏ, mình đi bộ qua cây cầu.
- Đi ngược lại?
- Đi ngược lại rồi đi xuôi.
- Anh không nói đùa chứ. Nhưng tôi sợ...
- Sợ tới nơi muộn.
- Không phải. Tôi sợ lính họ giữ mình lại.
- Lính sao lại giữ người qua cầu.
- Vậy mà tôi sợ, vì họ thấy mình qua cầu hoài tưởng mình sắp tự tử.
- Tự tử, ai điên gì tự tử.
- Anh cứ tưởng người ta điên mới tự tử sao? Không đâu, có lúc tôi nghĩ chính mình điên mới sống, người ta chẳng hề điên khi tự tử.
Tôi mở lớn mắt vẻ ngạc nhiên :
- Vậy cô đã...
- Anh coi xem, tôi có thể là người đã tự tử không?
Tôi lắc đầu :
- Không thể, cô có vẻ một người yêu đời, không phải là một người sầu đời.
- Anh quên tôi mới nói sao: chính yêu đời người ta mới tự tử.
- Tôi không tin thế.
- Anh là người yêu đời và chưa bao giờ tự tử?
- Đúng thế. Yêu đời khiến người ta không muốn chết. Tồi biết thường người ta tự tử vì lầm lẫn, nên ít có ai tự tử lần thứ hai. Tự tử một lần rồi thường người ta yêu sống hơn ai hết.
- Vậy thì nên tự tử một lần cho biết và để được sống yêu đời hơn?
- Nhưng không may chết thật thì sao?
- Chết thật thì thôi, ăn nhằm gì.
Giọng thiếu nữ đầy bông đùa. Tôi nghĩ hẳn nàng phải được sinh trưởng từ một khung cảnh gia đình tự do, con cái đối với cha mẹ khác với những gia đình Việt Nam khác. Câu chuyện bâng quơ mỗi lúc một khiến tôi như bị đẩy vào một sự thích thú. Tôi không nghĩ nàng đã từng tự tử. Tôi nói :
- Có thích đọc tiểu thuyết không?
- Hồi nhỏ tôi mê tiểu thuyết tình.
- Những chuyện tình ngang trái, như những lá ngọc cành vàng chẳng hạn.
Nàng cười :
- Hồi đi học tôi thương cô Loan của Nhất Linh.
- Bây giờ?
- Bây giờ tôi lớn rồi.
- Cô nghĩ chỉ khi còn nhỏ người ta mới mê tiểu thuyết?
- Lúc nhỏ, lúc còn thơ ngây người ta dễ bị lừa dối hơn.
- Tôi nói tới tiểu thuyết mà.
- Dạ, tiểu thuyết.
Tôi cười :
- Hình như cô thiền rồi.
Nàng mở lớn mắt rồi hơi cau lại :
- Thiền rồi, tôi không hiểu ý anh?
- Tôi muốn nói bây giờ cô tỉnh rồi, cô đạt rồi... nghĩa là cô không còn bị lừa dối nữa.
- Hình như người ta thích được lừa dối hơn, phải thế không?
- Tôi không biết về điều này.
Chuyến xe đang chạy men theo một con kinh lớn, những hàng dừa xanh soi bóng xuống mặt nước phẳng những cây cầu khỉ bắt qua ẻo lả, trưa nắng gần như không có người qua lại, thỉnh thoảng tôi mới thấy một chiếc ghe chạy qua với tiếng máy nổ giòn giả.
- Cô lên Sài Gòn thăm bà con.
- Vâng, nhà tôi ở dưới tỉnh.
- Thích nhỉ, chiều nay thứ bảy, tối nay cô đã có thể ngồi ở trong một phòng trà nghe nhạc, sáng mai đi dạo, ăn sáng, coi xi-nê, tuần này không biết có phim hay không?
- Anh xa Sài Gòn đã lâu?
- Hơn hai mươi ngày.
- Và anh cũng đã có hẹn.
Tôi cười, lúc sau tôi nói :
- Chắc bạn của cô ở trên đang chờ?
- Vâng, anh ấy dang chờ...
Nói hết câu, nàng mỉm cười một mình, nhìn thẳng về phía trước. Tôi nói :
- Vợ chồng sống xa nhau lâu lâu gặp lại chắc thích hơn, ở mãi một bên chán lắm.
- Tại sao lại chán?
- Vì quá quen thuộc.
- Vậy nếu anh đã có vợ, anh nên coi chừng, nếu anh chưa có vợ thì anh đừng lấy vợ.
- Cô giải thích cho tôi nghe lời khuyên của cô.
- Anh có bao giờ nghe chuyện người đàn bà đau đớn khi sinh nở không?
Tôi cười cười :
- Có, nghe nói đau lắm.
- Nhiều người chết vì sinh nở nữa.
- Phải, có hồi tôi ở gần một nhà hộ sinh và từng nghe người ta kêu gào, có người kêu cả tuần mới hết, khiếp nhỉ, trách nào có câu: đau như đau đẻ.
Thiếu nữ che miệng cười.
- Vậy mà chẳng có ai chỉ sinh một lần, người ta tiếp tục sinh, sinh năm một, sinh hàng mười đứa con, trong khi đó vừa kêu đẻ đau, vừa kêu khổ vì nhiều con cái...
Tôi không nhịn được, bật cười lớn và tôi thấy nhiều người trong xe quay lại nhìn tôi. Tôi đổi hướng câu chuyện :
- Chắc lần này cô lên ở luôn trên Sài Gòn?
- Không, tôi lên độ tuần lễ rồi về. Chồng tôi dạy học ở trên đó.
- Để cho ông ấy một mình cô không sợ có người bắt cóc sao?
Thiếu nữ cười :
- Giữ ngay bên mình mà người chồng lang chạ thì cũng chịu. Anh có thấy vậy không?
Tôi gật đầu. Nắng buổi chiều đang xuống dần, vì thế nắng càng hắt nhiều vào trong xe, thiếu nữ phải kéo cửa lên cho khỏi nắng. Chuyến xe bỗng chậm lại rồi đứng, tôi nhìn về phía trước: có nhiều xe đang nối đuôi nhau, hành khách túa xuống đường, người tài xế hỏi những người bạn cùng nghề, câu chuyện cho biết phía trước không xa có giao tranh gần quốc lộ khiến cho xe cộ không thể chạy được, nhiều người trên xe nóng ruột bàn tán, thiếu nữ im nghe mặt không lộ vẻ gì, tôi nói :
- Cô có lo không, chắc ông ấy ở Sài Gòn đang nóng ruột.
- Còn anh?
- Tôi, tôi quen rồi, nhiều khi tôi kẹt lại hàng tuần lễ vì những chuyện như thế này.
Thiếu nữ không trả lời vào câu hỏi, nàng thường có một cách thức riêng để thoát ra khỏi những câu chuyện, sự lẩn tránh làm cho nàng thêm linh động và bí ẩn. Tôi lấy ví tìm chiếc ngoáy tai nhưng không thấy, nhìn thấy cái nhẫn nhỏ, tôi cầm ra lồng vào ngón tay. Thiếu nữ nhìn vẻ thản nhiên. Tôi nói :
- Tôi sợ cô hiểu lầm.
- Hiểu lầm, tôi không hiểu ý anh.
- Tôi chỉ còn có một cái duy nhất.
- Anh có nhiều cái cất trong ví.
Tôi mở rộng ví, đưa về phía nàng :
- Thật tình tôi chỉ còn có một cái.
- Nhưng trước kia?
- Phải, trước kia tôi có nhiều.
- Để làm gì?
- Để tặng.
Cô gái nghiêm nét mặt. Nàng không nói tiếp mở cửa xe ngó xuống đường. Ngồi trong khi xe không chạy khiến tôi cũng khó chịu, tôi đứng lên xuống khỏi xe. Lúc sau tôi thấy thiếu nữ cũng xuống và đi thơ thẩn ven bờ ruộng vẻ thư thái.
Tôi dời mép ruộng ngắt lên một bông lúa non, mùi lúa thơm tươi dịu dàng, cánh đồng rộng mút mát, chỉ ở miền Nam này mới có thể có ruộng cò bay thẳng cánh. Thiếu nữ đến nơi, tôi nói :
- Ruộng đất của ai sao nhiều quá, hẳn phải giàu ghê lắm...
- Giàu, con gái nhà giàu cực lắm anh. Cha tôi cũng có nhiều ruộng như thế này.
- Tôi chỉ thấy nghèo là cực.
Thiếu nữ cúi xuống nhặt một viên đá ném vào ruộng lúa, một con chim nhỏ từ dưới bay vụt lên. Nàng nhìn theo với nụ cười.
- Hồi bấy giờ nhiều người theo tôi, nhiều người cậy mai mối tới xin cưới tôi... tôi thấy rõ họ tới vì nhà tôi giàu, và tôi kinh sợ... Người ta yêu ruộng, yêu tiền của...
Thiếu nữ ngừng lại, mặt như tối đi, đây là giây phút thứ nhất tôi nhận thấy một thoáng buồn trên mặt nàng. Hình như nàng thở dài sau câu nói. Đoàn xe vẫn nằm im tắt máy, nhiều người buồn chán ngồi xuống ven đường, có xe đã sang khách và quay đầu trở lại, nắng mỗi lúc một dịu xuống cùng với gió lộng trên cánh đồng, những ngọn lúa vàng từng lúc cúi rạp theo chiều gió với tiếng reo vui. Tôi thấy không thể chờ đợi tiếp, sau khi hỏi người tài xế, tôi lấy hành lý sang xe quay trở lại.
Thiếu nữ nói :
- Anh quay lại.
- Tôi không chờ được, tôi về thị trấn gần nhất nghỉ qua đêm chờ mai sớm cho khỏe, đằng nào cũng kẹt rồi.
- Anh cho tôi đi theo với.
Tôi ngạc nhiên, thấy tôi có vẻ ngần ngại, thiếu nữ nói :
- Có phiền cho anh không?
- Không, nếu cô thích.
Chúng tôi trở lại thị trấn nhỏ ở phía sau đó, khách sạn hết phòng khiến chúng tôi phải ở chung một phòng ngó xuống con sông rộng nước đục và nhiều ghe thuyền. Sau khi rửa mặt, thay quần áo chúng tôi khóa cửa phòng xuống thăm thị trấn nhỏ trước khi vào một quán ăn.
Trong lúc ăn, thiếu nữ nói :
- Chắc người ta tưởng tôi với anh là vợ chồng.
Tôi không nói im lặng ăn. Quán vắng nằm trên bờ sông, một phần được làm hẳn ra ngoài mặt nước, ghe thuyền qua lại không ngừng, dòng nước đục luôn luôn cuộn sóng. Thiếu nữ nhìn ra mặt sông với vẻ ưu tư :
- Chắc cô nghĩ tới quê nhà?
Nàng quay lại mỉm cười :
- Tôi nhớ lại lần tôi đã nhảy xuống dòng nước giống như thế.
Tôi ngạc nhiên :
- Cô đã tự tử?
Nàng gật đầu :
- Nhưng tôi biết tôi không thể chết, tôi phải có thái độ quyết liệt như vậy để lấy được người mình yêu.
- Cô đã thành công?
- Tất nhiên. Ngày cưới, cha tôi gọi tôi vào phòng riêng nói: con đã quyết định theo ý con, con không nghe theo ba, con hãy nhớ: sướng hay khổ con phải chịu lấy, con đừng trách ba đã không lo cho con. Tôi đã ôm lấy ba tôi mà khóc vì ba đã chiều theo tôi, tôi cũng nhủ thầm tôi sẽ có được hạnh phúc như tôi mong ước. Người yêu của tôi, tôi thấy là một người lý tưởng, một người mà tôi thầm ước. Tôi hài lòng...
Giọng thiếu nữ say mê như sống lại những ngày tháng cũ trong đời mình. Tôi nói :
- Yêu nhau, lấy nhau, tôi thấy người ta thường có hạnh phúc.
Thiếu nữ không nói tiếp ngó ra dòng sông, lúc sau nàng quay lại hỏi :
- Anh có biết trường V.H. không?
- Có, tôi cũng có mấy người bạn ở đó. Người yêu của cô dạy ở đó sao?
Nàng gật đầu :
- Tôi có đến trường một lần và đọc thấy hàng chữ: Lương Sư Hưng Quốc... Làm một người tốt, làm một người hữu dụng, ai cũng muốn thế, chắc anh cũng muốn thành một người tốt, một người chồng lý tưởng một công dân... phải thế không? Anh cũng từng nói với người yêu của anh như thế, nào là lý tưởng, nào là... Chồng của tôi cũng thế. Anh ấy nói đủ hết, và ngay trong đêm tân hôn anh ta hỏi tôi: ba má cho mình bao nhiêu tiền, mua xe hơi cho mình chưa, mình được bao nhiêu ruộng.
Thiếu nữ ngừng lại uống một miếng nước rồi nói tiếp :
- Lấy chồng, tôi đã tự quyết định, vì thế tôi đã từ khước mọi thứ mả ba má tôi cho, tôi nghĩ tiền bạc không cần cho tình yêu. Tôi nói lại với anh ấy. Anh ấy ngạc nhiên, có vẻ không tin và lập tức đi lục lọi hết tất cả, bới tung hết các va-li. Nào có gì đâu, tôi chỉ mang theo những quần áo thường có. Anh ta kêu lên, điên thật, như thế lấy tiền đâu chơi bài, lấy tiền đâu chơi cá ngựa... Anh hiểu chứ.
Thiếu nữ nhìn tôi, đôi mắt như hơi đỏ lên. Tôi lặng đi.
Sau bữa ăn thiếu nữ ra đứng ngoài lan can nhìn xuống dòng nước. Tôi đứng bên nói :
- Cô không có ý định tự tử chứ?
- Tôi đã nói với anh, yêu đời người ta mới tự tử được.
- Vậy cô còn lên Sài gòn làm gì?
- Tôi mang tiền bạc lên.
Tôi ngạc nhiên :
- Cô nghĩ tiền bạc sẽ mang lại hạnh phúc cho cô.
- Tôi đã về xin tiền ba má tôi, không phải thế, tôi cần tiền để nhờ luật sư xin ly dị...
Thiếu nữ mân mê cái nhẫn cưới nơi ngón tay, tôi mỉm cười :
- Cô vẫn còn thích cái nhẫn?
Tôi tháo chiếc nhẫn ra khỏi tay cất vào trong ví. Thiếu nữ hỏi :
- Sao vậy?
- Như vậy cho được yên tâm.

Thiết lộ - Dương Nghiễm Mậu


Thiết lộ

Ông Tám rót thêm cho mình một lt đế nữa, tiếng nút cọ vào miệng chai thủy tinh thoát ra một âm thanh khô, khít. Chai đế đã vơi hơn nửa. Ông Tám nhủ thầm: sao hôm nay lão Tư không đến nhậu với mình, lão đã chán đến hay lại bệnh bất tử rồi... hay lão đã kiếm được đường đi khỏi như lão dự định, đi đâu, làm gì, mình già rồi, còn việc nào khác là việc bẻ ghi nữa, sức mình còn kham chi được nhiều... Ông Tám lẩm bẩm với mình, hôm nay không còn người bạn già để cùng nhau tâm sự, nói đi nói lại những câu chuyện đã nói không biết bao nhiêu lần, những câu chuyện thường bắt đầu: Lúc trước, khi xưa, hồi còn, ngày tôi mới lấy nhà tôi, tết năm...
Những vạt nắng cuối cùng leo lên những ngọn cây cao su phía trước, mấy tàu lá chuối óng ả vươn lên cao, sân ga trong buổi chiều hôm nay trông như hẹp hẳn đi, thùng chứa nước cũng như thấp xuống, chiếc thùng sơn đen như mốc, đã lâu rồi nó không còn được sơn sửa, nước mưa tràn đầy chảy xuống rì rả từ đầu mùa tới nay đã khiến cho một phía góc có chỗ hở nước chảy xuống tạo thành một vệt han gỉ, nhưng nay còn ai kiểm soát nữa đâu mà lo. Bốn con đường sắt song song với nhau ông Tám chỉ còn nhận ra một con thì cỏ cao bao phủ, phía ngoài những cây con đã mọc, chính những cây con và cỏ đã khiến ông tưởng như sân ga hẹp lại rất nhiều ông không còn nhận ra hàng rào thép gai phía trước, hàng rào mà những thời gian trước ông đã phải luôn luôn để ý đến nó vì từ phía đó những kẻ đi tàu lậu vẫn vượt qua, có một chỗ mà ông không sao ngăn ngừa được đã khiến cho trên khoảng sân ga có một con đường mòn, con đường những bà già, trẻ con thường vượt qua để vào bán quà bánh, trái cây nước trà, những khi có tàu đến ngừng lại trong chốc lát, bây giờ không còn ai vượt qua con đường ấy, không còn những đứa trẻ nhanh như chuột trốn chạy ông, không còn tiếng năn nỉ của những đứa nhỏ chậm chân khiến ông giữ lại của nó một ấm nước, một mẹt bánh, mẹt mía... ông Tám lơ đãng nhìn ra khoảng sân nhớ tới những con tàu đen nằm lại trong sân ga, tiếng máy ì ạch nặng nhọc, hơi nước và khói than nồng nàn, tiếng gọi nhau, tiếng rao hàng, tiếng gõ khô khan của những người kiểm soát con tàu soi đèn vào những chiếc vít, chỗ nối toa sau một đoạn đường dài con tàu đã chuyển động.. Bây giờ chỉ còn lại đó một sân ga cao cỏ và sự có mặt lếch thếch của gia đình kia. Lúc trước cảnh những gia đình đến ga này không ít, nhưng phần nhiều là những kẻ làm ăn thất bát, những người thất nghiệp đến đây làm phu đồn điều cao su, họ đến nhiều nhưng đi khỏi chẳng bao nhiêu, những lần thấy có người đi khỏi ông mừng cho họ, đất này độc, người ta đến và ở lại để chết vì bệnh tật, đời sống phu phen chẳng bao giờ tạo nổi cho họ một tương lai khá hơn. Gia đình này chắc cũng như vô vàn những gia đình khác. Họ có đi được không, ông mong họ may mắn. Thầy Ký vào nơi phòng nhỏ, chỗ có mắt cáo để bán vé, thầy lục lọi cái này cái khác, lấy chổi phất trần quét chỗ làm việc. Lúc sau ông xếp cũng đến, rồi mấy người lao công... thêm vào ông Tư, đó là tất cả nhân viên trong nhà ga này. Đã mấy tháng rồi họ đã đến đây không đều đặn, hôm đến hôm không, nhưng hôm nay họ đến đủ mặt và chừng như cố tạo lại sự bình thường, sự bình thường mà mỗi ngày trước đây họ phải làm. Thầy Ký ngồi vào chỗ bán vé, mở khóa ngăn kéo, lau kệ, rồi lấy thuốc ra châm hút. Ông Tám uể oải đưa chổi quét lần xi-măng trong khoảng phòng đợi, lối ra sân ga. Hai người lao công, anh Thịnh đứng lên chiếc cân như thử lại sự chính xác của nó, anh chăm chú nhìn chiếc cán cân thăng bằng sau khi điều chỉnh rồi kêu lên vẻ vui thích: Tôi lên được nửa ký. Anh Lạc leo lên chiếc thang lên dây chiếc đồng hồ nhin xuống nói: Mấy giờ rồi ta. Trong khi đó ông Xếp lau chiếc điện thoại trên bàn, xé những tờ lịch trên tường rồi ông ngồi thừ xuống ghế không biết làm gì tiếp...
Ông Tám già tợp thêm một ngụm đế. May mà còn đế nhậu nếu không thì buồn chết, ông nhớ tới thằng con, đứa cháu đích tôn mới được một tuổi, không hiểu hồi này bọn nhỏ ra sao, đến nửa năm rồi còn gì hồi ông xuống Mỹ Tho chơi với chúng được hai ngày, thế rồi thôi, chẳng được một lá thư của nó nữa, nếu có tàu ông đi Sài Gòn rồi xuống Mỹ Tho ông không mất một đồng bạc, bây giờ thì phải đi xe đò rồi, nhưng có đáng là bao nhiêu đâu, bình thường bây giờ chẳng ở đâu là xa hết, xe cộ dễ dàng và ngon lành nữa. Cái gia đình hồi sáng bây giờ ra sao, mong họ đã đến một nơi nào rồi trên đường tới Sài Gòn, ông thử tưởng tượng tới những trạm mà chuyến xe chạy qua nhưng ông không sao nghĩ được, đã rất lâu rồi có bao giờ ông đi trên con đường ấy đâu. Những đàn muỗi rừng, thứ muỗi cỏ cánh dài đã trở lại bay vòng vòng trên những ngọn cỏ, những cơn gió nhẹ thổi qua lay động những ngọn cây cao, vẻ lay động lặng lẽ cô tịch. Ông Tám nhấp một ngụm đế, cầm lấy miếng khế chua cắn một chút, cỏ và rêu đã mọc vào đến hiên ga, mai phải làm việc một chút mới được, để mãi trông nó hoang liêu quá, mà biết đâu chiều nay bỗng nhiên tàu chạy trở lại, nhìn thấy sân ga như thế này chắc các xếp không hài lòng? Ông Tám như nhủ thầm với mình, ừ biết đâu mai lại không có tàu chạy đến. Sáng hôm nay tất cả những nhân viên đều đã đến, ông cũng đã mở cửa nhả ga như mọi ngày, cầm cái chổi quét những rác rưởi, khi quét ông mới nhận ra rằng trong nhà đợi đã có một gia đình cư ngụ tại đó. Hai chiếc chiếu rách, một người đàn ông vàng vọt khô khẳng, một người đàn bà và hai dứa trẻ con. Ê nhà ga chứ đâu phải nhà tế bần các bồ. Người đàn ông khoác chiếc khố tải nói mãi mới ra tiếng: chúng tôi chờ tàu đi Sài Gòn chữa bệnh. Đi Sài Gòn, nghe thấy điều đó ông Tám bùi ngùi, ông lắc đầu: có tàu đâu mà đi Sài Gòn, không biết sao? Đôi mắt lo âu của người đàn bà: thưa bác không có tàu? Không có từ lâu rồi mà, không biết sao? Dạ chúng cháu ở trong đồn điền không biết. Ông Tám đưa mắt nhìn họ, chắc là họ ở trong đồn điền phía trong không biết những điều xảy ra ngoài này. Thôi kiếm xe đò mà đi, tàu thì đến bao giờ... Ông muốn nói cho họ biết việc đi ra khỏi đây không còn như những ngày trước nữa, ông Tám uể oải đưa chổi quét cho tới lúc sau ông thấy họ thu xếp đi. Ông hỏi đi đâu, người đàn bà bế đứa con trên tay: chồng con bệnh nặng phải về nhà thương ngay, chúng cháu ra ngoài lộ đón xe. Bây giờ họ đã lên được chiếc xe nào chưa, những xe dò họa hoằn mới chạy qua một lần, hay bây giờ họ còn đứng đợi ngoài quốc lộ. Ông Tám không muốn nghĩ tới nữa. Ông đã nhìn theo họ thương hại, sao ông lại không nói hết cho họ hay, sao không nói để trở lại nơi làm việc của họ, sao không nói họ ở lại, biết đâu mai này có tàu, những biết đâu mà ông đã nghĩ đến không biết bao nhiêu lần... Lúc nãy thầy Ký bán vé tàu đến, hai người bắt tay nhau, ông Tám đã nói: Đáng lẽ sáng nay ông có việc rồi đó. Thầy Ký nhìn ông: Việc gì? À một gia đình định mua vé đi Sài-gòn? Cả hai người phá lên cười, thầy Ký hỏi: Họ đâu rồi? Tôi nói không có tàu nên họ ra ngoài đón xe đò. Ông Tám nói xong định cười nhưng ông không cười được khi nhớ lại cảnh gia đình người phu lếch thếch lo âu kéo nhau đi ra quốc lộ với hy vọng tìm được xe trở về Sài Gòn. Sài Gòn, với cái tên gọi đó bỗng trở thành xa lạ với ông, nó không còn là một nơi gần gũi mà nếu ông muốn ông có thể đến đó một cách dễ dàng như trước. Mong cho họ đã đến được Sài Gòn, nhưng ngay sau đó ông không tin điều ông mong ước đã trở thành sự thật với gia đình người lạ mặt kia.
Mỗi lúc ông Tám một thấy chất rượu như ngọt thêm nơi đầu lưỡi, đầu óc mỗi lúc như thấy một mờ tối đi cùng cảnh vật ngoài trời. Không say thì còn biết làm gì nữa, không biết vợ chồng thằng Hai ra sao, đứa cháu nhỏ nữa, sao ông thấy nhớ chúng quá, có cách nào cho chúng có thể tới đây hay ông có thể tới ngay bên chúng nó lúc này, nếu được vậy ông sẽ bắt thằng hai đi kiếm thêm vài xị nữa, làm một con gà xé phay ra rồi cha con cùng nhậu, nó cũng là một thằng nhậu được lắm, nó có những thằng bạn trong lính cũng là sâu rượu chứ ít gì, ông vẫn thường nói với nó: con trai phải biết nhậu nhưng không được bê bối, nhậu cho vui, cho khuây khỏa chứ không được mượn rượu mà làm chuyện bậy bạ, không thể nói say mà làm thế này thế khác, không thể mượn rượu mà chửi bố người ta, say nhưng sao không chửi bố mình mà lại cứ nhè bố mẹ người ta mà chửi. Như thế là bá láp, tầm bậy, đó là điều ông Tám không tha thứ cho ai được. Nhậu nhẹt, tán dóc, cười vui rồi ngủ, đó là điều ông vẫn nói với thằng con của mình không được mượn rượu mà la mèo mắng chó làm khổ vợ con. Những ngày ở với ông xem ra thằng Hai cũng biết điều lắm, chúng nhậu mà không bao giờ làm ông phiền lòng, lúc làm việc thì làm việc, khi chơi thì cho ra chơi, đó là điều khiến ông yên tâm và hài lòng về nó, không hiểu hồi này nó ra làm sao, ông không được biết một tin gì của nó cả. Ông Tám thấy má mình ướt không biết có phải mình đã khóc không.
Ông Tám ngồi im lắng nghe những tiếng động chung quanh. Tiếng một con chim rừng nào đó lẻ loi ngoài rừng cây. Chòi nước sơn màu hắc ín những dây leo bám quanh. Đoạn đường sắt cụt dành cho những đầu máy vào lấy nước đã um tùm những cây cao hơn đầu người. Những vạt nắng cuối cùng leo trên những ngọn cây xanh tối mù đục hơi sương. Ông Tám lấy từ trong túi ra gói thuốc rê bọc trong lần lá chuối đã vàng héo. May mà ở đây người ta còn trồng được thuốc, nấu được rượu, nếu không thì ông cũng đến tìm cách mà rời khỏi dù bằng cách nào đi nữa. Nhưng dù vậy những điếu thuốc đã không còn được ngon như trước, vì thứ giấy cuốn đã không còn là thứ giấy mỏng mà ông đã phải dùng tới những tờ giấy dầy, nhiều khi là những tờ giấy xé ra từ một cuốn vở viết, mùi giấy hôi át đi mùi thuốc thơm dịu. Ông Tám ngạc nhiên nhìn ra, ông cố gắng vận dụng mắt để nhìn xem ai đang đi lại phía ông, à lão Tư, tưởng là hôm nay lão không đến, phải rồi lão phải đến chứ, còn ai nữa đâu trong cái nhà ga khốn kiếp này. Qua khói thuốc ông Tám nhận thấy ông Tư đã đứng lờ mờ trước mặt :
- Sao bồ, tưởng bồ không đến, tôi nhậu một mình chán quá. Làm mấy ngụm chơi.
- Không đến sao được, nhưng kẹt...
- Kẹt gì vậy, bà xã làm khó hả?
Ông Tư cười lớn vẻ khoái trá, ông ngồi xuống bên cầm lấy chiếc ly không của ông Tám rót phần ba ly đưa lên môi tợp một ngụm, ông tép tép môi lấy một miếng khế nhấm nhấm.
- Kẹt quá ông ơi, thằng con tôi nó tính bỏ đi khỏi đây, nó kêu chịu không thấu nữa. Tôi cố bảo nó ráng chịu đựng ít lâu, chẳng lẽ mãi như thế này được sao nhưng nói gì nó cũng không chịu, nó tính đi khiến cho bà vợ tôi khóc tùm lum hết, bà sợ khi bà chết không có nó ở bên, thật thời buổi kỳ quá, bỗng nhiên mình như bị đày...
Ông Tám thở dài như thông cảm với tình cảnh người bạn già.
- Nhưng làm cách nào mà nó đi được, ngó bộ nó muốn chết sao, chẳng gì bây giờ nó cũng lớn rồi, nó mà leo xe đò là thế nào cũng bị bắt đi, đi mà không biết tung tích gì cả.
- Mình nói với nhau thì dễ chứ với bọn nó thì ông ơi, ông biết đó... cái hồi thằng con ông lấy vợ ông có nói được nó không...
- Chuyện lấy vợ khác, chuyện này can hệ cho mạng sống nó chớ.
- Vậy rồi, nhưng mình nói mà bọn chúng không nghe thì biết làm sao đây, thật rầu thúi ruột...
Ông Tư rót thêm một ly nữa và uống cạn, ông Tám lặng thinh. Bọn trẻ thật là khó chịu, giá hồi đó nó không cưới vợ thì ngày nay đã được sống với nó, nhất là ông muốn cưới cho nó một con vợ ở ngay đây, như vậy thì bố con đâu phải xa nhau, nhưng nó đi đây đi đó, rồi nó thương nhau biết làm sao mà ngăn cản. Cái hồi đó ông đã buồn nhưng thấy con vợ nó cũng khá nên ông cũng bằng lòng vậy, nếu không có lộn xộn thì cũng không đến nỗi nào, lâu lâu ông xuống thăm chị sui, anh chị ấy cũng chẳng có con cái nào khác ngoài vợ thằng Hai nên chúng nó cũng được nhờ, nhất là đứa cháu trai, có người bảo ông không sợ mất con mất cháu sao, ông nghĩ mất sao được gì thì nó cũng vẫn là con mình, mà mình nuôi có chắc gì nó đã sướng như người ta nuôi nó. Xa nó ông buồn nhưng trông thấy nó không phải khổ là ông vui lòng rồi.
Hai lão già ngồi im nhìn ra khoảng sân ga vắng lặng, thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lướt qua lay động những ngọn cỏ cao úa vàng, xưa kia trên khoảng sân đó vào những buổi chiều như thế này khi những chuyến tàu sắp ngang qua sân ga ồn ào náo nhiệt với những hành khách, những người bán quà bánh, những đứa trẻ bán nước, bán những khẩu mía cắm lên đầu những cái tăm túa ra từ một thanh tre nhỏ, cùng đó mùi khói than nồng nực và những tiếng động kéo níu, tất cả chừng như đã dời khỏi sinh hoạt phân tán đi mọi nơi, những đầu máy, toa xe chỉ còn chạy trên những quãng đường ngắn, nằm trong những nhà ga không còn sinh hoạt, ông Tám nói :
- Ông có nghe chuyện ông thanh tra cùng phái đoàn đi coi đường sắt không?
- Không.
- Tôi nghe họ nói lại kỳ lắm, phía đường ngoài muốn tái thiết cũng còn lâu. Đoàn quan sát ngồi trên trực thăng suốt từ Sài Gòn ra tới ngoài, dọc theo đường sắt cho thấy nhiều quãng đường đã bị phá hoàn toàn, nhiều cây cầu đã bị sập, có nhiều đoạn đã trở thành những ruộng ngô, ruộng sắn.
- Nghĩa là đường sắt, tà-vẹc bị mang đi luôn?
- Hẳn là vậy.
- Kỳ nhỉ, vậy rồi làm sao?
- Thì làm lại.
- Thật là nhảm, làm cho được đâu phải dễ gì, mất bao công sức, thật tôi không hiểu được.
- Mình nghĩ vậy và cho là đúng, nhưng người ta không nghĩ vậy. Kể cái hồi đầu tiên người ta làm con đường này cũng kinh, chắc là khối người chết. Này hồi trước ông đã có dịp đi một chuyến nào suốt cho tới ngoài Bắc không?
- Chưa bao giờ, cũng có lúc tôi nghĩ tới một lần đi như thế, nhưng chưa, và chắc không còn dịp để làm nữa, sợ tới lúc mình chết vẫn còn loạn, ông ngó coi từ hồi nào đến giờ có bao giờ yên đâu, hết thế này lại thế khác, có người nói có khi mình chết hết, chết mà trả cái nợ đã diệt người Chàm của tổ tiên mình...
Giọng nói khề khà chếnh choáng, hai ông già vừa uống vừa nói những chuyện này khác, không liên lạc gì với nhau. Trời đã tối hẳn, ông Tám nhìn về phía nhà mình, một ngọn đèn cháy leo lét bập bùng nơi giữa nhà thấp thoáng trong đó bóng vợ ông đi lại. Ông Tám hình dung ra con đường xe lửa ông đã từng ngang qua, bây giờ bỗng nhiên có những nơi không còn dấu vết gì nữa, những ruộng ngô, những rẫy sắn, những căn nhà được dựng lên, không còn một con đường, không còn những liên lạc ngang qua... Đó là điều không thể nghĩ ra được. Như vậy rồi đây làm sao để người có thể đi từ nơi này tới nơi khác. Có người nói với ông không phải chỉ những con đường sắt, mà những con đường khác cũng đã không còn là những con đường mà có khi nó đã trở thành một con sông, con lạch, những cái hồ... Biết đâu, tới một lúc nào đó nhà ga này cũng không còn là một nhà ga, và ông sẽ phải đổi sang làm một công việc khác, ông có thể làm được việc gì. Ông Tám nói :
- Này, ví dụ rồi không bao giờ có xe lửa, rồi ngành hỏa xa giải tán thì ông làm gì?
- Làm gì mà không được, chết chóc gì mà ông phải lo, đến lúc đó hãy hay.
Ông Tư vừa nói vừa cười với người bạn già. Nụ cười thanh thoát tưởng như của một người đã hoàn toàn hài lòng với đời sống, ông đứng lên nhìn người bạn già trong bóng tối nhờ nhờ của buổi tối :
- Thôi tôi về nghe, làm mấy ngụm rồi về ngủ một giấc, thế là được rồi. Để mai tôi nói làm một con gà nhậu chơi...
Ông Tư bước đi chếnh choáng, chợt ông ngừng lại nhìn chăm chú ra ngoài cửa nhà ga, phía ngoài hàng cửa sắt. Ai đi ngoài đó trong đêm. Ông Tám thấy ông Tư đứng lại với dáng điệu chăm chú vội hỏi :
- Gì đó ông Tư?
Ông Tư vẫn đửng im, một tay ra dấu cho ông Tám im lặng. Ông Tám vội đứng lên đi lại phía người bạn già. Ông đã nhận ra gia đình người phu buổi sáng tới chờ tàu đi Sài Gòn.
- Vậy mà tưởng gì.
- Tôi tưởng đâu...
- Mấy người buổi sáng tôi đã nói với ông đó, họ không đón được xe về dưới.
Người đàn ông khăn trùm kín đầu, bước đi không vững tựa tay lên vai người vợ đang bước lên khỏi những bậc gạch nơi cửa nhà ga, đứa nhỏ theo sau. Trong bóng tối đám người như những bóng ma hiện hình chập chờn trở lại một cõi nào. Ông Tám buột miệng :
- Tội nghiệp...
Ông Tám đi lại gần nơi cửa :
- Không kiếm được xe sao?
Giọng người đàn bà mếu máo :
- Chúng cháu chờ suốt từ sáng tới giờ mà không có chuyến xe nào... cụ cho chúng cháu ngủ lại đây mai chờ xe...
Người đàn ông ngồi nơi nền xi-măng đưa bàn tay run rẩy lên cố vạch mép khăn nơi mặt nhìn lên, chừng như người đó nói gì nhưng không ai nghe thấy. Đứa nhỏ trên tay người vợ khóc, tiếng khóc nghe mềm nhệu như tiếng con mèo bệnh. Ông Tám lần trong thắt lưng kiếm chùm chìa khóa, ông lần chuỗi dây xích, tiếng sắt kêu khô khan, ông mở khóa, kéo cánh cửa rồi nói :
- Thôi vào trong này mà ngủ, ở ngoài ấy gió lắm. Bây giờ không có tàu, xe cũng khó lắm, khó mà về dưới đó được, tôi đã bảo mà, khó đi khỏi đây lắm, nếu đi được thì tôi đã đi thăm thằng con tôi, hóa các người sống ở trỏng không biết gì sao?
- Dạ không, chúng cháu tưởng cũng như ngày xưa...
Người đàn ông được vợ đỡ cho đứng dậy, anh ta vịn một tay vào tường, chân lết đi, đứa nhỏ theo sau kéo một cái túi vải nhỏ. Ông Tư lặng lẽ bỏ đi. Người đàn bà trải chiếc chiếu rách vào sát tường phía trong cho người chồng ngồi xuống, chị cũng ngồi xuống bên, chị mở ra một gói cơm đưa cho đứa nhỏ trong khi nựng đứa bé trong lòng. Tiếng ru của người mẹ nghẹn ngào như muốn khóc, ông Tám ra đứng cửa. Ông nghe thấy tiếng súng vọng từ xa, tiếng nổ vang lên trong không khí tịch mịch...
1966